Thứ Năm, 29/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hoàn thiện thủ tục truy tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự
Việc truy tố hay không truy tố bị can ra trước Toà án không những có tác động lớn đến người phạm tội, làm cho họ nhận thức rõ được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình gây ra và sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật mà còn ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an của xã hội. Khi quyết định truy tố, cơ quan Công tố phải cân nhắc nhiều mặt, bảo đảm truy tố chính xác, nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật và hiệu quả. Hiện nay, khi bàn về hoàn thiện thủ tục truy tố trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), người ta thường đề cập đến các vấn đề như nguyên tắc truy tố, thẩm quyền truy tố, thời hạn truy tố, nội dung cáo trạng.

Quyền công tố là quyền của Nhà nước, do đó, nguyên tắc truy tố không phụ thuộc vào việc nạn nhân có muốn truy tố hay không. Chức năng này do đại diện Nhà nước (Viện kiểm sát hay Viện công tố, có nước còn giao cho Cảnh sát hoặc Hải quan truy tố đối với một số tội phạm nhất định). Khi nhận được kết quả điều tra, cơ quan Công tố phải quyết định có đưa vụ án ra toà hay không. Để ra quyết định truy tố, cơ quan Công tố phải đánh giá đầy đủ các căn cứ để xem xét khả năng bị cáo có thể bị kết tội (tại toà) hay không. Quá trình điều tra có thể có những thiếu sót về chứng cứ, về áp dụng pháp luật hoặc có căn cứ khác dẫn đến việc không thể truy tố tội phạm. Khi quyết định truy tố hoặc không truy tố, cả lợi ích chung và lợi ích cá nhân người phạm tội đều phải được cân nhắc để không ảnh hưởng đến nguyên tắc hợp pháp và bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân(1).

Trên thế giới hiện nay có hai nguyên tắc truy tố được vận hành chủ yếu, đó là nguyên tắc truy tố bắt buộc và nguyên tắc lựa chọn truy tố.

Nguyên tắc truy tố bắt buộc đặt ra yêu cầu khi xác định hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì mọi vụ án hình sự dù nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng cơ quan Công tố đều phải chuyển cho Toà án để xét xử. Nguyên tắc truy tố này bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật, mọi người phạm tội đều phải được Toà án xét xử. Nguyên tắc cứng nhắc “truy tố theo luật” này đang được áp dụng ở nhiều nước mà điển hình là Cộng hoà Liên Bang Đức.

Trước khi có BLTTHS năm 1988, pháp luật tố tụng hình sự nước ta cũng áp dụng nguyên tắc lựa chọn truy tố thông qua chế định truy tố và chế định miễn tố. Chế định miễn tố khác chế định đình chỉ vụ án về bản chất. Miễn tố có nghĩa là hành vi của bị can đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm và có thể đã phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn điều tra (như bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam), nhưng sau khi cân nhắc nhiều mặt như bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị can có nhân thân tốt, thì không cần thiết phải áp dụng hình phạt, do đó, không đưa ra toà xét xử. Đến BLTTHS năm 1988 và năm 2003 đã bỏ chế định miễn tố và thực hiện nguyên tắc truy tố bắt buộc, mọi hành vi của bị can có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì Viện kiểm sát phải làm cáo trạng để truy tố.

Nguyên tắc lựa chọn truy tố được áp dụng ở hầu hết các nước theo truyền thống luật án lệ và ở một số nước theo luật lục địa. Theo nguyên tắc này, không phải mọi hành vi phạm tội mặc dù đã đủ bằng chứng đều được đưa ra toà mà phải cân nhắc các nguồn lực và lợi ích công chúng. Thay vì truy tố tất cả, cơ quan Công tố chỉ tập trung truy tố các tội phạm nghiêm trọng, phức tạp tuỳ theo biến động của tình hình. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà phán quyết có tội ở các nước Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Vương Quốc Anh rất cao, tại Nhật Bản là hơn 99%. Tại Trung Quốc, khi đã đầy đủ chứng cứ và xét thấy cần truy tố bị can ra Toà án để xét xử thì Viện kiểm sát mới quyết định việc truy tố(2). Việc sử dụng nguyên tắc lựa chọn truy tố hay không truy tố cho phép cơ quan Công tố chủ động có được những quyết định đúng đắn nhất theo hướng chỉ đưa ra toà xét xử đối với những người phạm tội đáng phải chịu hình phạt, miễn truy tố đối với những người phạm tội không cần thiết phải áp dụng hình phạt, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích Nhà nước, xã hội và lợi ích cá nhân.

Nếu như nguyên tắc truy tố bắt buộc (nguyên tắc “truy tố theo luật”) đòi hỏi, mọi vụ việc đều phải được chuyển sang cho Toà án để xét xử khi xác định hành vi đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhằm bảo đảm tính công bằng và bình đẳng trong tố tụng hình sự, mọi hành vi phạm tội dù lớn hay nhỏ đều phải được đưa ra Toà án, thì nguyên tắc lựa chọn truy tố không đạt được yêu cầu này nhưng lại tạo ra sự độc lập, chủ động cho Công tố viên và khi đó Công tố viên không thuần tuý chỉ là người áp dụng luật pháp mà còn là người đại diện cho lợi ích của công chúng trong việc hành xử công tố quyền. Nguyên tắc truy tố bắt buộc có tác dụng ngăn cản, hạn chế sự tác động từ bên ngoài vào hoạt động truy tố của Công tố viên nhưng thường lãng phí thời gian, gây tốn kém các nguồn lực tố tụng, các cơ quan tư pháp không tập trung đấu tranh chống những tội phạm nghiêm trọng, phức tạp. Ngược lại, nguyên tắc lựa chọn truy tố sẽ làm tăng sự can thiệp, tác động từ bên ngoài nhưng hiệu quả, tiết kiệm công sức và chi phí tố tụng.

Để ngăn ngừa cơ quan Công tố lạm quyền, ở các nước áp dụng nguyên tắc lựa chọn truy tố, người ta thường có cơ chế giám sát nội tại và giám sát bên ngoài chặt chẽ nhằm chế ước quyền tự quyết của cơ quan Công tố trong việc truy tố hay không truy tố một tội phạm. Nếu Cơ quan điều tra cho rằng quyết định miễn truy tố của cơ quan Công tố không đúng thì kiến nghị với Toà án. Toà án sẽ tổ chức một phiên toà do một Thẩm phán chủ trì để nghe Công tố viên lập luận các căn cứ của việc không truy tố; nếu lý lẽ không đủ thuyết phục thì buộc Công tố viên phải xem xét lại quyết định của mình như phải huỷ bỏ quyết định miễn tố và ra quyết định truy tố; nếu đủ căn cứ thuyết phục thì Công tố viên vẫn giữ nguyên quyết định miễn tố(3). Có nước còn thành lập Hội đồng giám sát (gồm những đại diện nhân dân có kiến thức pháp luật, từ 3 đến 5 người) để xem xét quyết định miễn tố của Viện kiểm sát (Trung Quốc). Hội đồng họp và nghe đại diện Viện kiểm sát trình bày những căn cứ để ra quyết định này, sau đó các thành viên của Hội đồng bỏ phiếu kín; nếu kết quả không đồng ý thì Viện kiểm sát phải huỷ bỏ quyết định miễn tố và ra quyết định truy tố.

Thời hạn truy tố là thời hạn được tính từ khi cơ quan Công tố nhận được hồ sơ cùng bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra đề nghị truy tố, kết thúc khi cơ quan Công tố ra quyết định truy tố hoặc không truy tố (miễn tố, đình chỉ vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung). Theo quy định của BLTTHS Việt Nam, thời hạn truy tố được tính dựa trên sự phân loại tội phạm. Đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tối đa là 30 ngày, tội phạm rất nghiêm trọng là 45 ngày, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 60 ngày(4). Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, có nước cũng quy định thời hạn truy tố nhưng không quy định theo loại tội phạm (Trung Quốc)(5); có nước không quy định thời hạn truy tố mà giải pháp để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án trong giai đoạn truy tố là tăng quyền hạn và trách nhiệm của Công tố viên (Nhật Bản).

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta, để có căn cứ quyết định truy tố hay không truy tố, Viện kiểm sát phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tiến hành một số hoạt động điều tra cần thiết (như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất để kiểm tra chứng cứ, loại trừ các mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án). Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài cho thấy, có nước cũng quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát/Viện công tố như nước ta. Bộ luật Tố tụng Hình sự Trung Quốc quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát trước khi ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền, ngoài việc nghiên cứu hồ sơ vụ án thì việc phúc cung bị can và lấy lời khai người bị hại là bắt buộc. Trong quá trình thẩm tra hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát tự mình xác minh chứng cứ hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung chứng cứ mà không cần trả hồ sơ. Đây là bảo đảm thực tế để Viện kiểm sát khắc phục sự quan liêu, thụ động trong quá trình truy tố tội phạm. Đối với những vụ án mà Viện kiểm sát ra quyết định không truy tố thì Viện kiểm sát phải cùng lúc huỷ bỏ việc thu giữ và phong toả tài sản hoặc đồ vật có giá trị trong quá trình điều tra. Nếu cần phải xử lý hành chính người không bị truy tố hoặc cần tịch thu những thu nhập bất hợp pháp của người này, Viện kiểm sát phải đề nghị những biện pháp như vậy và chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và phải thông báo cho Viện kiểm sát biết kết quả xử lý”(6).

Để mở một phiên toà xét xử cần có một bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra toà, trong đó xác định tội danh bị cáo và mức độ phạm tội của bị cáo. Theo quy định hiện hành, nội dung cáo trạng gồm các vấn đề sau: “Phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. Như vậy, bản cáo trạng trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta không chỉ nêu hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân bị can mà còn viện dẫn các chứng cứ xác định tội trạng, đã làm cho cáo trạng vừa thiếu chắc chắn, vừa dài, gây tốn kém chi phí không cần thiết (vì có những chứng cứ chỉ tại Toà án mới được khẳng định). Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài cho thấy, nhìn chung nội dung cáo trạng truy tố bị can ra toà thường ngắn gọn, chỉ nêu họ tên bị can hoặc các bị can, hành vi phạm tội bị truy tố (tội danh), thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm, lai lịch bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án, điều khoản truy tố. Nội dung cáo trạng không viện dẫn chứng cứ chứng minh tội phạm. Đối với các vụ án áp dụng thủ tục rút gọn thì chỉ ra thông báo hoặc quyết định truy tố nêu rõ họ tên bị can, hành vi phạm tội và điều, khoản áp dụng của Bộ luật Hình sự(7).

Thực tiễn thi hành các quy định về thủ tục truy tố trong Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành cho thấy còn có những quy định thiếu cụ thể, không khả thi, rườm rà, làm kéo dài việc giải quyết vụ án. Có những trường hợp về thực chất là miễn truy tố nhưng do luật không quy định, dẫn đến thực tiễn thường vận dụng căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 25 của Bộ luật Hình sự, trong khi Điều luật này chỉ quy định chung là “do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” là chưa phù hợp(8). Thời hạn truy tố chủ yếu căn cứ vào sự phân loại tội phạm là chưa phù hợp với thực tiễn. Có những vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng tính chất vụ án rất phức tạp (vụ án tội gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích vào ban đêm, có nhiều bị can tham gia), không có nhân chứng trực tiếp, vật chứng không thu hồi được. Việc đánh giá chứng cứ, xác định vị trí vai trò của từng bị can trong những vụ án thường dựa vào những chứng cứ gián tiếp, dựa vào niềm tin nội tâm. Do tính chất phức tạp như vậy, thời gian luật định thường không đủ để hoàn thành cáo trạng truy tố. Ngược lại, có những vụ án tuy thuộc loại tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng phạm tội quả tang (giết người, cướp tài sản) chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, hoàn toàn có thể kết thúc việc truy tố sớm hơn nhiều so với thời hạn luật định. Thời hạn 3 ngày để hoàn thành thủ tục truy tố trong những vụ án rút gọn cũng là quá ngắn, khó thực hiện, nhất là trong những trường hợp bị can tại ngoại. Điều đó giải thích tại sao, tỷ lệ án do Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung còn nhiều và vì sao các địa phương ngại áp dụng thủ tục rút gọn (chỉ chiếm chưa đến 1% tổng số án thụ lý, giải quyết hàng năm).

Nội dung bản cáo trạng theo quy định hiện hành (Điều 167) còn rườm rà do phải mô tả nội dung hành vi phạm tội, viện dẫn chứng cứ, nhân thân bị can mà trong đó nêu cả tên, tuổi những người thân thích của bị can (bố mẹ, anh em ruột, vợ, các con) là không cần thiết, gây phản cảm. Trong thời hạn ba ngày, Viện kiểm sát phải giao cáo trạng cho bị can (khoản 1 Điều 166 của BLTTHS) là không khả thi, quá ngắn đối với những trường hợp vụ án có nhiều bị can tại ngoại, bị can tạm giam ở nơi xa. Nhiều địa phương và trong hầu hết các vụ án thường vi phạm thời hạn luật định về giao nhận cáo trạng.

Quy định “Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của cấp mình, Viện kiểm sát phải ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền (khoản 4 Điều 166 của BLTTHS), nhưng luật không quy định thời hạn truy tố cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền truy tố, đã hạn chế việc nghiên cứu hồ sơ, củng cố chứng cứ hồ sơ vụ án, dẫn đến số vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung còn nhiều(9).

Để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn của BLTTHS năm 2003 về thủ tục truy tố, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cần hoàn thiện, đổi mới thủ tục truy tố theo hướng sửa đổi, bổ sung một số vấn đề sau:

- Sửa đổi nguyên tắc truy tố bắt buộc thành nguyên tắc lựa chọn truy tố, nhằm bảo đảm yêu cầu kết hợp hài hoà giữa lợi ích Nhà nước, xã hội và lợi ích cá nhân dân. Đồng thời, có cơ chế giám sát chặt chẽ ngăn ngừa việc lạm dụng chế định miễn tố trong thực tiễn.

- Quy định cụ thể nội dung trách nhiệm của Kiểm sát viên, những việc cần phải làm rõ trong nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm tra chứng cứ, các thủ tục tố tụng đã áp dụng và việc đề xuất Lãnh đạo Viện kiểm sát ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền trong giai đoạn truy tố.

- Nội dung cáo trạng cần súc tích, ngắn gọn và chắc chắn, chỉ nêu hành vi và tội danh truy tố, đặc điểm nhân thân của cá nhân bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án, không viện dẫn chứng cứ, không nêu danh tính của những người thân thích của bị can để giảm thiểu sự rườm rà không cần thiết và tiết kiệm chi phí tố tụng.

- Thẩm quyền ban hành cáo trạng nên giao cho Kiểm sát viên phụ trách, nhân danh Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố ban hành, vừa là để tăng quyền hạn và trách nhiệm cho Kiểm sát viên, cũng là để thuận lợi cho việc rút, thay đổi cáo trạng của Kiểm sát viên tại phiên toà.

- Thời hạn truy tố phải phù hợp, khả thi để “truy tố chính xác, đầy đủ mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội”; theo đó, không phân định thời hạn truy tố theo loại tội phạm mà quy định chung thời hạn truy tố các vụ án là 30 ngày, nếu vụ án phức tạp thì gia hạn 15 ngày hoặc 30 ngày.

- Bỏ quy định trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ban hành cáo trạng, Viện kiểm sát phải giao cáo trạng cho bị can, vì quy định trên không khả thi mà quy định chung là bản cáo trạng phải được giao cho bị can trong thời hạn truy tố và trước khi chuyển hồ sơ vụ án sang Toà án.

- Quy định rõ các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhất là căn cứ: “thiếu chứng cứ quan trọng về vụ án mà Viện kiểm sát hoặc Toà án không thể bổ sung được” và căn cứ “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự”. Quy định cụ thể trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong thực hiện việc điều tra bổ sung.

- Thẩm quyền truy tố phải gắn liền với thẩm quyền thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm, vừa là để nâng cao chất lượng truy tố, vừa là để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà theo yêu cầu cải cách tư pháp. Theo đó, quy định rõ Viện kiểm sát cấp trên không được ra cáo trạng, uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm như hiện nay; nếu Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì phải cử Kiểm sát viên cấp mình trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án đó.

 
Chú thích:

(1) Bộ luật Tố tụng Hình sự Pháp quy định không cần thiết phải truy tố trong những trường hợp: 1) khi tội phạm là một vụ việc nhỏ, ít nghiêm trọng và việc truy tố không đem lại lợi ích cho công chúng (các Điều 153, 153b, 154(1), (2) và 154a); 2) khi lợi ích công chúng từ việc truy tố có thể đạt được bằng một cách khác (bằng cách bồi thường (Điều 153a)); 3) khi việc truy tố không phục vụ lợi ích công chúng hoặc có thể làm phương hại, không có lợi cho lợi ích quốc gia hoặc khi người phạm tội đã thực hiện các biện pháp hạn chế khả năng thiệt hại cho đất nước theo đúng tinh thần của Hiến pháp, sau khi thực hiện hành vi phạm tội (các Điều 153d (I), 153e (I), 154c, 154d).

(2) Ở Nhật, ngay cả khi có đủ bằng chứng chứng minh tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể dừng việc truy tố nếu thấy không cần thiết vì các lý do tội phạm học. Điều 248 BLTTHS Nhật Bản quy định: “Trường hợp không cần thiết truy tố do đặc điểm, tuổi và hoàn cảnh của người phạm tội, mức độ và điều kiện của tội phạm cũng như các hoàn cảnh sau khi phạm tội, việc truy tố có thể không được thực hiện”.

(3) Tại Pháp, các Viện công tố được toàn quyền quyết định việc truy tố hay không, khác với các nước theo hệ thống pháp luật dân sự lục địa ở Châu Âu khác (trừ Bỉ) vốn áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc và các cơ quan Công tố không có quyền tự quyết như vậy. Ước tính rằng, quyết định không truy tố của Công tố viên chiếm ít nhất 50% tổng số vụ án có thể bị truy tố. Các căn cứ được đưa ra thường là chứng cứ không đủ, không xác định được người phạm tội hoặc đơn giản là việc truy tố không phục vụ lợi ích của công chúng. Tiêu chí cho căn cứ cuối cùng có thể thay đổi rất khác nhau giữa các Công tố viên nhưng thường là do nhân thân của bị can, tính chất ít nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tính có lỗi của chính nạn nhân hay sự bồi thường đã được giải quyết. Quyết định không truy tố chỉ là tạm thời và mặc dù hồ sơ đã được đưa vào lưu trữ thì sau đó vẫn có thể phục hồi (tuỳ thuộc vào các nguyên tắc liên quan đến thời hiệu). Khi một người bị truy tố về tội trộm cắp khai ra là mình đã hành động cùng một tên nữa thì Công tố viên có thể quyết định chỉ truy tố thủ phạm chính chứ không truy tố người đồng phạm.

Tại Trung Quốc: Đối với những vụ án ít nghiêm trọng và không cần phải xử lý hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát có thể quyết định không truy tố người phạm tội. Điều 142 quy định: “Nếu thấy bị can thuộc một trong các trường hợp quy định trong Điều 15 của Luật này, Viện kiểm sát phải ra quyết định không truy tố”. Quyết định không truy tố phải được công khai trước công chúng. Điều 143 quy định: “Quyết định không truy tố phải được công bố công khai trước công chúng, và quyết định phải bằng hình thức văn bản, được chuyển giao cho người không bị truy tố và đơn vị của người này. Nếu người đó đang bị tạm giam thì phải trả tự do ngay”.

Trong trường hợp Cơ quan điều tra không đồng ý với quyết định không truy tố của Viện kiểm sát, thì có quyền đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp xem xét lại và nếu không được chấp nhận, thì kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên xem xét. Điều 144 quy định: “ Khi quyết định không truy tố đối với vụ án cơ quan Công an đề nghị truy tố, Viện kiểm sát phải giao quyết định bằng văn bản cho cơ quan Công an. Khi thấy quyết định không truy tố có sai sót, cơ quan Công an có thể yêu cầu xem xét lại và nếu không được chấp nhận, có thể đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét lại”.

Nếu Viện kiểm sát không quyết định truy tố thì người bị hại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên và đề nghị truy tố; nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với quyết định không truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới, thì người bị hại có thể khởi kiện ra Toà án. Điều 145 quy định: “Khi quyết định không truy tố đối với những vụ án có người bị hại, Viện kiểm sát phải gửi quyết định không truy tố bằng văn bản cho người bị hại. Nếu không tán thành, thì trong thời hạn bảy ngày kể từ khi nhận quyết định, người bị hại có thể khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và đề nghị truy tố. Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo quyết định sau khi đã thẩm tra cho người bị hại biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên đồng ý với quyết định không truy tố, người bị hại có thể kiện ra Toà án. Người bị hại cũng có thể trực tiếp kiện ra Toà án mà không cần phải khiếu nại trước. Sau khi Toà án đã thụ lý vụ án, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án liên quan cho Toà án”.

(4) Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2003, thời hạn truy tố là 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

(5) Điều 138 của BLTTHS Trung Quốc không quy định thời hạn truy tố theo sự phân loại tội phạm mà quy định chung là một tháng, nếu vụ án phức tạp thì gia hạn thêm 15 ngày. Thời hạn truy tố tối đa là 45 ngày. Trong trường hợp thay đổi thẩm quyền truy tố thì thời hạn truy tố được tính lại từ đầu, do đó, thời hạn tối đa là 90 ngày để bảo đảm cho Viện kiểm sát khác nắm chắc hồ sơ trước khi truy tố theo thẩm quyền).

(6) Điều 137 của BLTTHS Trung Quốc quy định trước khi truy tố phải làm rõ những điểm sau: “1. Tình tiết phạm tội có rõ ràng hay không, chứng cứ có đáng tin cậy và đầy đủ hay không, việc buộc tội và bản chất của tội phạm có được quyết định đúng hay không; 2. Có bỏ lọt hành vi phạm tội và người phải truy cứu trách nhiệm hình sự nào không; 3. Liệu vụ án có thuộc trường hợp không cần truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; 4. Liệu vụ án có phát sinh vụ kiện dân sự hay không; và 5. Liệu hoạt động điều tra vụ án có được tiến hành hợp pháp không”. Điều 139 quy định: “Khi thẩm tra một vụ án, Viện kiểm sát phải thẩm vấn bị can và ghi lại ý kiến của người bị hại và những người do bị can và người bị hại chỉ định”. Điều 140 quy định: “Trong khi thẩm tra hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan Công an cung cấp chứng cứ cần thiết để xét xử tại Toà án.

Điều 141 của Bộ luật TTHS Trung Quốc quy định: “ Khi thấy các tình tiết phạm tội bị can đã chắc chắn, chứng cứ là đáng tin cậy và đầy đủ và cần truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật, Viện kiểm sát phải ra quyết định truy tố và tiến hành buộc tội tại Toà án theo các quy định về thẩm quyền xét xử”.

(7) Điều 220 BLTTHS Liên Bang Nga quy định: “Trong bản cáo trạng cần nêu rõ: Họ tên bị can hoặc các bị can; thông tin về nhân thân từng bị can; thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm; phương pháp, động cơ, mục đích phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự áp dụng”. Cáo trạng do Dự thẩm viên ký và ghi rõ thời gian, địa điểm lập cáo trạng.

Điều 200 BLTTHS Liên Bang Đức quy định nội dung cáo trạng: Bản cáo trạng sẽ phải chỉ rõ bị cáo bị buộc tội gì, hành vi mà bị cáo bị truy tố, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.

Điều 256 Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định: “1. Việc truy tố được thực hiện bằng bản cáo trạng; 2. Bản cáo trạng gồm những nội dung sau: Tên và đặc điểm riêng của bị cáo; những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố như thời gian, địa điểm và phương thức phạm tội, tội danh, các điều luật của Bộ luật Hình sự được áp dụng”.

Nguyên tắc 7 về cáo trạng của Bộ luật TTHS Mỹ quy định: Không phải mọi tội phạm đều phải bị truy tố bằng bản cáo trạng, mà một tội phạm phải bị truy tố bằng bản cáo trạng nếu bị phạt tử hình hoặc bị phạt tù từ một năm trở lên. Tuy nhiên một hành vi phạm tội có thể bị phạt tù từ một năm trở lên có thể bị truy tố bằng thông báo nếu bị cáo trong phiên toà công khai và sau khi được tư vấn về bản chất của cáo buộc và các quyền của bị cáo khước từ việc truy tố bằng cáo trạng. Cáo trạng và thông báo phải bằng văn bản dễ hiểu, chính xác và nhất quán bao gồm các yếu tố cấu thành tội phạm và phải được Luật sư Chính phủ ký mà không cần phải có mở đầu hoặc kết luận một cách chính thức. Một tội danh truy tố có thể kết hợp bằng một dẫn chiếu đến một cáo buộc tại một Toà án khác. Một luận điểm truy tố có thể cho rằng phương thức phạm tội của bị cáo chưa được làm rõ hoặc tội phạm được thực hiện bằng một hoặc nhiều phương thức cụ thể. Đối với mỗi tội danh, bản cáo trạng hoặc thông báo phải trích dẫn chính thức hoặc theo tập quán các luật, nguyên tắc, quy định, hoặc các quy định khác của luật mà được xác định là bị cáo vi phạm. Vì các mục đích của cáo trạng được đề cập tại Điều 3282 Chương 18, Bộ luật Mỹ, theo đó lai lịch của bị cáo chưa xác định được, có thể chấp nhận được đối với bản cáo trạng mô tả bị cáo là một người chưa rõ tên nhưng đã có tài liệu gen ADN cá nhân như thuật ngữ được định nghĩa tại Điều 3282.

(8) Điều 169 “1. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Hình sự. 3. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can. 4. Trong trường hợp quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền huỷ bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố”.

(9) Tình trạng Toà án trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, nhất là những vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an điều tra và các Vụ nghiệp vụ ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố. Những vụ án thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố nhưng phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung chiếm tỷ lệ cao (44,75%) so với tỷ lệ Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra bổ sung (5,25%). Đáng lưu ý, trong đó có 82,07% số vụ án do Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung là có căn cứ pháp luật; nhiều vụ án phải trả đi trả lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, gây tốn kém về thời gian, kinh phí, có trường hợp phải đình chỉ điều tra hoặc Toà án tuyên bị cáo không phạm tội./.

TS. Đỗ Văn Đương - Ủy viên thường trực  Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 08/2012


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác