Thứ Năm, 6/8/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Thực trạng và giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung

1. Thực trạng tình hình chấp hành Luật Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung

Theo số liệu của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN và PTNT), trong giai đoạn vừa qua, ngành chăn nuôi nước ta luôn tăng trưởng cao và ổn định (trên 5%/năm). Tuy nhiên, chất thải chăn nuôi là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho môi trường tự nhiên. Chất thải chăn nuôi bao gồm: Phân của gia súc, gia cầm, chất độn chuồng, xác súc vật chết, rác thú y, nước tiểu, nước tắm vật nuôi, nước rửa chuồng trại, dụng cụ vệ sinh, chất thải khí (có thành phần chính là các loại khí CO2, CH4, H2S, NH3). Các loại khí thải chăn nuôi nếu không được thu gom và xử lý đúng phương pháp sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, gây hiệu ứng nhà kính.

Hiện nay, ngành chăn nuôi chủ yếu còn áp dụng các phương pháp xử lý chất thải rắn đơn giản, chủ yếu được tận dụng làm thức ăn cho cá (phân lợn), ủ bán phân hoại mục bón lúa, hoa màu (phân lợn, trâu, bò, gia cầm), nuôi giun…; song, số lượng không nhiều. Các trang trại chăn nuôi chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải (nhất là chăn nuôi lợn, bò) hàng ngày thải ra một lượng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt, tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẩn ngứa và ghẻ lở cao, phát tán mùi hôi thối rất khó chịu.

Ở một số nơi, tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài của các cơ sở chăn nuôi tập trung đã gây bức xúc trong nhân dân, khiếu kiện kéo dài, tạo điểm nóng về an ninh nông thôn như: Trung tâm lợn giống ngoại Thái Dương, Đô Lương, Nghệ An; hợp tác xã chăn nuôi dịch vụ Cổ Đông, Sơn Tây, Hà Nội; trang trại chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Vân, Quảng Nam; trang trại chăn nuôi của Công ty TNHH Cường Thịnh, huyện Tiền Hải,Thái Bình... 

2. Kết quả phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường

Thời gian qua, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (CSMT) các cấp đã chủ động nắm tình hình, triển khai có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với các ngành chức năng phát hiện và xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) thuộc lĩnh vực này.

Từ năm 2010 đến nay, lực lượng CSMT phát hiện và xử lý 288 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi; xử phạt 6,167 tỉ đồng. Điển hình như Phòng PC49, Công an tỉnh Bình Thuận đã phát hiện xử phạt vi phạm hành chính 22 vụ, phạt 2,3 tỉ đồng; phòng CSMT Công an tỉnh Bình Phước phát hiện 04 vụ, xử phạt 760,5 triệu đồng; CSMT Công an tỉnh Bình Dương phát hiện 07 vụ, phạt 426 triệu đồng... Các vi phạm về BVMT chủ yếu trong lĩnh vực này là: Xả nước thải, khí thải vượt tiêu chuẩn, quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định, vi phạm về hồ sơ thủ tục môi trường và thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung cam kết trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT.

 Lực lượng CSMT đã phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện và xử phạt hành chính 16 công ty, trang trại kinh doanh, sử dụng chất cấm thuộc nhóm beta agonis (chất tạo nạc) trong chăn nuôi. Đã kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết nhiều vụ việc ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung có khiếu kiện kéo dài, tạo điểm nóng về an ninh, trật tự nông thôn như: Trung tâm lợn giống ngoại Thái Dương, Đô Lương, Nghệ An; trang trại chăn nuôi của ông Trần Văn Chiến thuộc Hợp tác xã chăn nuôi dịch vụ Cổ Đông, Sơn Tây, Hà Nội; trang trại chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Vân, Quảng Nam; trang trại chăn nuôi của Công ty TNHH Cường Thịnh, huyện Tiền Hải, Thái Bình...

3. Những thuận lợi, khó khăn trong đấu tranh, xử lý vi phạm

 Về cơ bản, thể chế quản lý môi trường chăn nuôi đã khá đầy đủ và phong phú, bước đầu tạo chuyển biến tích cực cả đối với các cơ sở sản xuất và cơ quan quản lý nhà nước, giúp đảm bảo ngành chăn nuôi phát triển bền vững theo hướng tập trung công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, thể chế này còn tạo được khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương có điều kiện thực hiện tốt công tác quản lý, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm, đảm bảo xử lý đúng người, đúng hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, công tác BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung vẫn còn một số hạn chế, bất cập:

- Các văn bản pháp luật về quản lý, BVMT trong chăn nuôi nhiều (tính đến nay đã có hơn 10 luật, pháp lệnh và nhiều thông tư, quyết định có liên quan). Tuy vậy, các văn bản này vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập; nội dung thiếu tập trung, tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau; chế tài xử lý chưa đủ mạnh, các hướng dẫn chưa cụ thể; các quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về BVMT còn nhiều bất cập, chồng chéo, chưa rõ ràng.

- Trong công tác quản lý nhà nước, ngành chăn nuôi còn thiếu quy hoạch tập trung, chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm ưu thế, tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, đại đa số manh mún, rải rác, xen kẽ trong khu dân cư dưới hình thức kinh tế hộ gia đình, vì vậy chất thải chăn nuôi hầu như không được xử lý.

Công tác BVMT chưa thực sự được các cấp, các ngành coi trọng, quan tâm khi phê duyệt, thẩm định. Các dự án chăn nuôi chưa gắn kết sản xuất với xử lý và BVMT. Nhiều dự án xây dựng từ những năm trước song cơ quan quản lý nhà nước không giám sát chặt chẽ đến việc lập hồ sơ đánh giá tác động môi trường trước khi đi vào hoạt động chăn nuôi, dẫn tới nhiều trại chăn nuôi đi vào hoạt động vẫn chưa lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường; không xây dựng các công trình xử lý môi trường hoặc có xây dựng nhưng không đúng với công suất hoạt động dẫn tới gây ô nhiễm môi trường.

Việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan trong quản lý lĩnh vực này chưa quyết liệt, thường xuyên, mang nặng tính hình thức dẫn đến tình trạng “chây ỳ” vi phạm. Công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị, các đoàn thể, tổ chức. Công tác nghiên cứu khoa học cho riêng lĩnh vực BVMT trong chăn nuôi còn ít. Thiếu đầu tư cho khảo sát, thăm dò và đo đạc về đánh giá nguồn ô nhiễm và mức độ gây ảnh hưởng. Các biện pháp xử lý môi trường chưa nhiều, chi phí xây dựng, vận hành cao nên khó có điều kiện áp dụng vào thực tiễn.

- Nhận thức về BVMT của các cơ sở chăn nuôi còn nhiều hạn chế, chỉ quan tâm đến lợi nhuận, còn mang tính đối phó. Chủ trại chăn nuôi đa số là nông dân, ít am hiểu các quy định về BVMT. Nhiều cơ sở chăn nuôi tập trung không đủ vốn, thiếu công nghệ hiện đại về xử lý chất thải.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống vi phạm pháp luật BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung

Để ngành chăn nuôi nước ta phát triển bền vững, thực hiện được các mục tiêu tại Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật BVMT, trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung cần thực hiện tốt một số nội dung sau: 

Một là, rà soát, xây dựng, sửa đổi và bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về BVMT nói chung và BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung nói riêng. Sớm có thông tư liên tịch hướng dẫn việc điều tra, xử lý đối với các tội danh thuộc Chương XVII - Bộ luật Hình sự nói chung và các Điều 182 (Tội gây ô nhiễm môi trường), Điều 186 (Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người), Điều 187 (Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật). Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện sửa đổi Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi theo hướng phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính, tăng chế tài xử phạt, bổ sung thẩm quyền xử lý cho lực lượng CSMT tại một số điều. Sửa đổi bổ sung Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Xây dựng một quy chuẩn riêng cho nước thải chăn nuôi là điều kiện vô cùng cấp thiết đối với ngành chăn nuôi.

Hai là, thực hiện tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung. Cần quy hoạch vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, xa khu vực dân cư. Kiểm duyệt chặt chẽ các thủ tục, biện pháp BVMT khi phê duyệt dự án chăn nuôi. Cần xây dựng các công trình xử lý nước thải, chất thải tập trung để xử lý triệt để chất thải trước khi xả thải ra môi trường.

Ba là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi công dân trong phòng ngừa, đấu tranh với vi phạm pháp luật về BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung.

Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung. Giám sát chặt chẽ việc nhập khẩu, sử dụng các hóa chất cấm dùng trong chăn nuôi. Có chính sách ưu tiên, hỗ trợ các doanh nghiệp xử lý chất thải chăn nuôi đầu tư máy móc, thiết bị xử lý môi trường hiện đại, đáp ứng quy định về môi trường. 

Năm là, đối với lực lượng CSMT cần tập trung thực hiện tốt một số công tác trọng tâm sau:

- Đẩy mạnh công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung; chủ động làm tốt công tác phòng ngừa và đấu tranh, nắm chắc tình hình; chú ý phát hiện các phương thức, thủ đoạn vi phạm để kịp thời có biện pháp đấu tranh phù hợp.

- Tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả Chỉ thị số 02, 03 và các thông tư số 18, 19, 20, 21, 22 và 32  của Bộ Công an về công tác nghiệp vụ cơ bản, công tác hồ sơ, thống kê nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Trong đó, coi trọng công tác điều tra cơ bản tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm; lập hồ sơ sưu tra đối tượng, xác lập hiềm nghi, thúc đẩy lên chuyên án để đấu tranh, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Tập trung áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài ngành (Thú y, Thanh tra chuyên ngành về nông nghiệp, Thanh tra Bộ Tài nguyên - Môi trường, lực lượng Công an cơ sở…) đấu tranh, xử lý với các đối tượng vi phạm nghiêm trọng pháp luật về BVMT, các địa bàn trọng điểm, gây bức xúc trong dư luận. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại, không để khiếu kiện kéo dài, tạo điểm nóng về an ninh nông thôn có nguyên nhân từ ô nhiễm môi trường.

- Thông qua công tác nắm tình hình, công tác nghiệp vụ cơ bản và công tác phòng ngừa, đấu tranh thực tế, chủ động phát hiện những khó khăn vướng mắc, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về BVMT trong lĩnh vực này để kịp thời nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và đề ra các kế hoạch, biện pháp sát hợp, có hiệu quả.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc vào công tác phòng ngừa, đấu tranh để tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân tạo thế trận vững chắc trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường nói chung và trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung nói riêng.      

Dương Ngọc Thắng - Phó trưởng phòng 4 - C49                                                     

Đặng Thị Thu Thuỷ - Học viện Cảnh sát nhân dân

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 3/2015

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác