Thứ Sáu, 18/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Vai trò của luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhắc đến việc bảo vệ quyền con người, dù dưới góc độ nào, có nghĩa cũng đề cập đến việc bảo vệ nhân thân, các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Tại Lời nói đầu Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948) đã khẳng định: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới... Điều cốt yếu là quyền con người cần phải được pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải nổi dậy như là một biện pháp cuối cùng nhằm chống lại sự độc tài và áp bức... Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hợp quốc, phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người”. Như vậy, việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia và mọi dân tộc trên thế giới, trước hết là trên phương diện chính trị - pháp lý, sau là thực tiễn xã hội. Từ đó đến nay, trải qua hơn 50 năm nhưng nghiên cứu về nhân quyền và bảo vệ quyền con người đã và luôn luôn là vấn đề nóng hổi và có ý nghĩa chính trị thời đại quan trọng của hành tinh chúng ta, đặc biệt là trước yêu cầu của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, khi việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và quyền con người bằng Luật quốc tế (đặc biệt là Luật hình sự quốc tế) trước nguy cơ đe dọa của chiến tranh xâm lược, của xung đột vũ trang và bạo lực, sự hủy hoại và suy thoái môi trường sống, trước tội ác diệt chủng và chống loài người là đòi hỏi có tính cấp bách hơn bao giờ hết[1].

 

II. KHÁT QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ QUYỀN CON NGƯỜI

1. Khái niệm Luật hình sự quốc tế. Hiện nay, dưới góc độ khoa học - thực tiễn quốc tế còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này.

Luật hình sự quốc tế có thể được hiểu “là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế để điều chỉnh các vấn đề pháp lý trong hoạt động hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của cộng đồng quốc tế”[2] hay tương tự được hiểu là “tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh chống tội phạm. Luật hình sự quốc tế là một ngành mới trong hệ thống pháp luật quốc tế. Tội ác quốc tế thường cụ thể gây ra nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những kẻ phạm tội nghiêm trọng là việc làm rất cần thiết để bảo đảm hòa bình và an ninh thế giới”[3].

Trong khi đó, có quan điểm hẹp hơn cho rằng, Luật hình sự quốc tế “là một bộ phận của Luật quốc tế được ban hành để trừng phạt một số hành vi phạm tội. Luật này cũng quy định việc xét xử để bài trừ và xét xử những người bị buộc tội, ngoài ra, đó còn là hệ thống các quy tắc quy định luật nào sẽ áp dụng đối với tội phạm quốc tế, các yếu tố giả định cần thiết đối với các đạo luật này được coi như là bị cấm... Luật này còn quy định các thủ tục quốc tế vốn là những đạo luật hình sự mang tính thủ tục quản lý hoạt động của các cơ quan khởi tố cũng như các giai đoạn của các phiên tòa quốc tế...”[4].

Hoặc có quan điểm quan niệm rộng hơn - Luật hình sự quốc tế “là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những hành vi nào đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế là những tội phạm quốc tế (hoặc những tội phạm có tính chất quốc tế), đồng thời quy định các biện pháp hình phạt và các chế định pháp lý khác có thể được áp dụng đối với chủ thể có lỗi trong việc thực hiện tội phạm”[5]; v.v...

Tuy nhiên, dưới góc độ khái quát nhất, Luật hình sự quốc tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế ghi nhận những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế là các tội phạm quốc tế (và tội phạm có tính chất quốc tế - tội phạm xuyên quốc gia), đồng thời quy định hệ thống hình phạt và các chế định pháp lý có thể được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm, cũng như tổng hợp những nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong việc xử lý và phòng, chống các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đã nêu.

Từ khái niệm này cho thấy - điểm khác biệt cơ bản với Luật hình sự quốc gia (trong đó có Việt Nam) là ở chỗ nếu Luật hình sự quốc gia chỉ bao gồm các quy phạm pháp luật hình sự (Luật nội dung) thì Luật hình sự quốc tế chứa đựng tổng hợp các quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự (cả Luật hình thức). Do đó, trên cơ sở này, Luật hình sự quốc tế xác định nhiệm vụ rất quan trọng là bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế - sự tồn tại của hòa bình, an ninh của nhân loại, cũng như quyền con người và các giá trị xã hội cao quý khác tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm. Đặc biệt, một nhiệm vụ nữa của Luật hình sự quốc tế là việc phối hợp hoạt động của các quốc gia trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong mỗi quốc gia trên phạm vi toàn nhân loại.

2. Khái niệm quyền con người. Qua thống kê trong một tài liệu của Liên Hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố[6]. Ý thức về tôn trọng quyền con người và việc bảo vệ nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và gắn với lịch sử phát triển của loài người, cũng như sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cấp khác nhau, qua đó quyền con người dần trở thành giá trị cao quý chung của nhân loại và cộng đồng quốc tế. Cụ thể, quyền con người được kết tinh từ những phạm trù như: bình đẳng, tự do, bác ái, nhân văn, lòng bao dung, công lý - những khách thể quan trọng được Luật hình sự quốc tế bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của những vi phạm pháp luật quốc tế ở mức độ cao nhất.

Tư tưởng về quyền con người và việc bảo vệ quyền này đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại[7]. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước xã hội chủ nghĩa đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếu của các quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền[8]. Còn ở Châu Âu, kể từ thời Phục Hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Có thể kể đến một số đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà Lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ)[9]. Mặc dù, khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ Châu Âu nhưng ngày nay cần khẳng định rằng những khái niệm cơ bản của quyền con người về tự do và công bằng xã hội có tính chất phổ biến trên toàn thế giới. Các nội dung đầu tiên của quyền con người quốc tế thực sự có thể được tìm thấy trong các Hiệp định về Quyền tự do tôn giáo, Công ước Westphalia năm 1648 và việc cấm chế độ chiếm hữu nô lệ như tuyên ngôn về việc buôn bán nô lệ của Quốc hội Vienna vào năm 1815, việc sáng lập xã hội chống chế độ chiếm hữu nô lệ Mỹ vào năm 1833 và Công ước quốc tế về chống chế độ chiếm hữu nô lệ năm 1926[10]. Đặc biệt, thể hiện một cách tiêu biểu nhất nội dung quyền con người là hai văn bản nổi tiếng - Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Theo đó, lời tuyên bố sau đã mãi mãi đi vào lịch sử phát triển của khái niệm nhân quyền trên phạm vi toàn thế giới: “Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc[11]. Đây là những văn bản xác nhận chính thức về mặt pháp lý của Nhà nước về quyền con người và việc bảo vệ nhân quyền.

Như vậy, cốt lõi của khái niệm quyền con người là khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người hay “điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật[12]. Danh mục các quyền con người cần được bảo vệ bằng Luật quốc tế[13] (trong đó có Luật hình sự quốc tế) đã ghi nhận cụ thể trong ba văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người do Liên Hợp quốc ban hành, cụ thể là: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966 với tổng số 44 quyền cơ bản trong đó. Tổng thể các quyền con người này đã được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế (trong đó có Luật hình sự quốc tế), vì vậy, cần được tất cả xã hội, các quốc gia, dân tộc và những người khác trên toàn thế giới tôn trọng và bảo vệ. Trong số các quyền này, có thể thấy những quyền sau được bảo vệ trực tiếp bằng Luật hình sự quốc tế (trên cả phương diện nội dung và trình tự, thủ tục xét xử) như: Quyền sống; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ; quyền được bảo vệ để không bị tra tấn; quyền được bồi thường về mặt pháp lý khi bị vi phạm; quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đầy một cách tùy tiện; quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập và không thiên vị; quyền được suy đoán vô tội; quyền được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố; quyền về sức khỏe; quyền được đối xử nhân đạo khi bị tước tự do; v.v...

Còn đối với nước ta, quyền con người không phải ngẫu nhiên mà có, đó là thành quả của cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tạo dựng. Các quyền và tự do cơ bản của nhân dân được trân trọng ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946. Theo đó, tất cả con người và tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, con người và dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do. Do đó, quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của mỗi dân tộc, của các dân tộc. Hai quyền này thống nhất và làm tiền đề cho nhau vì, suy cho cùng bảo vệ quyền con người cũng chính là bảo vệ quyền của mỗi dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Đến lượt mình, khi quyền dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm, thì quyền con người của mỗi con người trong các quốc gia đó mới được tôn trọng, bảo vệ và có điều kiện phát triển. Quyền con người là thành quả cách mạng trong tiến trình lịch sử kéo dài. Bảo vệ và bảo đảm quyền con người là thước đo văn minh, dân chủ và thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước.

Những tiến bộ trong việc thực hiện quyền con người thông qua việc thực hiện các thế hệ quyền con người trong lịch sử cho thấy, để đạt được thành quả này làm một quá trình đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc, thực dân và của nhân dân lao động chống sự bóc lột của phong kiến, tư bản. Hiện thực hóa điều này, các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người như Hiến chương Liên Hợp quốc đã dành nhiều phần, đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của Liên Hợp quốc trong việc bảo vệ, thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền tự do cơ bản của con người. Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, xét về phương diện chính trị - xã hội được xem là một trong những thành tựu vĩ đại của Liên Hợp quốc, đồng thời có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và dân tộc về quyền con người, thế giới đã lấy ngày 10/12 hàng năm là Ngày Nhân quyền thế giới. Từ đó về sau, quyền con người được pháp điển hóa trong một loạt Công ước quốc tế ở các cấp độ khác nhau về nhân quyền. Tính đến nay, từ khi Bộ luật quốc tế về nhân quyền ra đời đã phát triển thành 24 Công ước quốc tế về nhân quyền trong đó quan trọng nhất là hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.

Như vậy, từ việc nghiên cứu khái quát lý luận về quyền con người đã nêu cho thấy, dưới góc độ khoa học, quyền con người là những đặc quyền vốn có tự nhiên của con người, chỉ có con người mới có và các quyền này phải được bảo vệ bằng pháp luật quốc gia và quốc tế, trong đó có Luật hình sự quốc tế. Nội dung của việc bảo vệ quyền con người bằng Luật hình sự quốc tế (hay vai trò của Luật hình sự quốc tế với việc bảo vệ quyền con người) được thể hiện trong các mục III, IV và V (cả phương diện nội dung và trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án) mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét.

 

III. NỘI DUNG CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

Từ thực tiễn quan hệ quốc tế, căn cứ vào các văn bản pháp lý quốc tế và sự tham gia ký kết của các quốc gia có thể nhận thấy vai trò của Luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người thông qua các nội dung dưới đây.

1. Luật hình sự quốc tế quy định các nguyên tắc, nhiệm vụ và các điều ước quốc tế để các quốc gia tham gia ký kết và thực hiện nhằm bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và quyền con người. Hệ thống Luật hình sự quốc tế bao gồm tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật xác định tính chất tội phạm và tính phải chịu hình phạt của các hành vi đặc biệt nguy hiểm xâm hại đến các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, đó là hòa bình, an ninh quốc tế của nhân loại và các giá trị xã hội cao quý của loài người, cũng nh­­ư các quan hệ hợp tác của các quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của trật tự pháp luật quốc tế. Các nguyên tắc được dùng để bảo vệ các giá trị cao quý của nhân loại mà cộng đồng thế giới xem trọng và kết quả là sự ràng buộc tất cả các quốc gia và cá nhân. Các nguyên tắc này đã được thể hiện bằng nhiều công cụ khác nhau.

Năm 1946, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã ban hành Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế đã được Quy chế Tòa án Nurrumbe và các phán quyết của nó công nhận như là các nguyên tắc được thừa nhận chung của Luật hình sự quốc tế với vai trò để khẳng định việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và quyền con người. Những nguyên tắc cơ bản này bao gồm: 1) Nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược; 2) Nguyên tắc trừng phạt bằng Luật hình sự đối với các tội phạm quốc tế; 3) Nguyên tắc cá nhân không được miễn trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế; 4) Nguyên tắc không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với các tội phạm quốc tế.

Ngoài ra, trong Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948, Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc và hàng loạt các văn bản khác cũng đã ghi nhận các nguyên tắc của Luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người như: 1) Nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh chống tội phạm; 2) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và Tòa án; 3) Nguyên tắc cấm tra tấn; 4) Nguyên tắc hạn chế hoặc thủ tiêu án tử hình; 5) Nguyên tắc đối xử nhân đạo với người bị tạm giữ.

Tuy vậy, cần lưu ý Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã dành Phần I với duy nhất một điều quy định về quyền dân tộc tự quyết với tư cách là quyền tập thể của quyền con người. Có thể khẳng định, đây là lần đầu tiên quyền quốc gia - dân tộc được ghi nhận với tư cách là một quyền con người. Nội dung của quyền này có thể được hiểu mọi dân tộc đều có quyền tự quyết - tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Ngoài ra, vì lợi ích của mình, các dân tộc đều có quyền tự do định đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế, mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc. Do đó, các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ Ủy trị và các lãnh thổ Quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp quốc. Về sau, quyền này lại được tái khẳng định trong Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993 (được thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai ngày 25/6/1993).

Đến năm 1973, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã tiếp tục thông qua Nghị quyết về các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực truy tìm, bắt giữ, dẫn độ và trừng phạt các cá nhân phạm tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đây là các nguyên tắc có tính đặc trưng thể hiện nghĩa vụ hợp tác quốc tế của các quốc gia là thành viên của Liên Hợp quốc trong các lĩnh vực đã nêu, qua đó bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội và bảo đảm xử lý nghiêm minh, kịp thời các cá nhân có hành vi phạm các tội ác xâm phạm đến quyền con người, đến các giá trị văn minh của nhân loại.

Về sau, các nguyên tắc đư­ợc thừa nhận chung của Luật hình sự quốc tế còn được thể hiện ở các mức độ khác nhau bằng các quy phạm trong Quy chế Rome năm 1998 về Tòa án hình sự quốc tế (Phần 3), cụ thể là: 1) Nguyên tắc pháp chế (Điều 22 và Điều 23); 2) Nguyên tắc nhân đạo (Điều 22 và Điều 24); 3) Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân (Điều 25); 4) Nguyên tắc loại trừ quyền tài phán đối với người dưới 18 tuổi (Điều 26); 5) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (Điều 27); 6) Nguyên tắc trách nhiệm của người chỉ huy và cấp trên (Điều 28); 7) Nguyên tắc không áp dụng thời hiệu (Điều 29); 8) Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở có lỗi (Điều 30) và; 9) Nguyên tắc không xét xử hai lần (Điều 20).

Bên cạnh đó, Luật hình sự quốc tế còn ghi nhận nhiều điều ước quốc tế về hình sự để các quốc gia tham gia ký kết và thực hiện. Các điều ước quốc tế này có ý nghĩa bảo đảm con người trên toàn thế giới có môi trường sống an bình, thịnh vượng, đồng thời lại có vai trò quan trọng để bảo vệ vững chắc và ổn định an ninh quốc gia[14], an ninh quốc tế[15] và quyền con người. Đặc biệt, kể từ sau chiến tranh thứ hai, khi cộng đồng quốc tế đã tạm thoát khỏi cảnh bị hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân và các vũ khí quân sự, vũ khí giết người hàng loạt, mặc dù nguy cơ chiến tranh vẫn rình rập đâu đó đối với nhân loại, với các quốc gia trên thế giới, song con người vẫn sinh tồn vì môi trường xung quanh ta vẫn đang còn sự sống, chính là “nhờ vai trò của các điều ước quốc tế về an ninh quốc tế, về đấu tranh phòng, chống các tội phạm quốc tế mà các chủ thể Luật quốc tế nói chung và các cường quốc hạt nhân nói riêng đã ký kết, tham gia hoặc gia nhập cùng cam kết thực hiện”[16]. Chẳng hạn: 1) Hiệp ước Luân Đôn năm 1945 và Quy chế Tòa án Quân sự Nurrumbe; 2) Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948; 3) Công ư­ớc về không áp dụng thời hiệu đối với các tội phạm chiến tranh và các tội phạm chống nhân loại năm 1968; 4) Công ­ước về ngăn chặn và trừng trị tội Apácthai năm 1973; 5) Các điều ước quốc tế chống khủng bố hàng không (Công ước Tokyo năm 1963; Công ước Lahay năm 1970), các điều ước chống khủng bố hàng hải (Công ước năm 1958 và năm 1982 về các điều khoản chống tội phạm cướp biển; Nghị định thư Roma năm 1998); Công ước năm 1979 về ngăn chặn và trừng phạt các tội phạm bắt cóc con tin; Công ước năm 1999 về trừng trị hoạt động tài trợ cho khủng bố; v.v...; 6) Các điều ước quốc tế về chống tội phạm ma túy (Công ước năm 1961 về các chất ma túy; Công ước năm 1971 về các chất hướng thần; Công ước năm 1998 của Liên Hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và hướng thần); 7) Công ước Giơnevơ năm 1929 về chống tội phạm làm tiền giả; 8) Công ước Palecmo về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; các công ước về dẫn độ và tương trợ tư pháp về hình sự (Công ước năm 1957 của Châu Âu về dẫn độ tội phạm và Nghị định thư bổ sung năm 1957); 9) Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; 10) Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; v.v...

Trong số các công ước, điều ước, hiệp ước hoặc hiệp định hai bên, nhiều bên, khu vực và đặc biệt là các công ước mang tính tổng thể có liên quan đến lĩnh vực tư­ pháp hình sự quốc tế do Liên Hợp quốc thông qua, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người có một số Công ­ước quan trọng mà Việt Nam đã tham gia[17]. Ở mức độ thấp hơn, đó là các văn bản của các cơ quan tư­ pháp hình sự quốc tế bao gồm các quy chế, các hiến chương và án lệ, như: các quy định tại Hiến ch­ương của Tòa án Quân sự quốc tế Nurembe năm 1945 và sự thể hiện chúng trong Bản án có tính chất lịch sử toàn thế giới của Tòa án này đã có ảnh h­ưởng quan trọng đến việc phân loại những tội phạm quốc tế, cũng như­­ hình thành một số các nguyên tắc của Luật hình sự quốc tế hay Tuyên ngôn về việc bảo vệ tất cả những người bị tra tấn và các hình thức đối xử và hình phạt khác dã man, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1975; v.v…

Tuy nhiên, một văn bản có giá trị quốc tế quan trọng trong lĩnh vực tư pháp hình sự để bảo vệ các quyền con người đó là Quy chế Tòa án hình sự quốc tế được thông qua ngày 17/7/1998 tại Rome (Italia) với việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế (ICC) có thẩm quyền xét xử các tội phạm diệt chủng, tội phạm chống loài người, tội phạm chiến tranh và tội phạm xâm lược, đồng thời với mục tiêu là bắt các cá nhân phải chịu trách nhiệm cho các tội ác đã được liệt kê trong danh sách những tội phạm nghiêm trọng và mức độ lớn cho những giá trị chung của con người.

2. Luật hình sự quốc tế quy định các tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế để truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo vệ an ninh nhân loại và quyền con người. Trước yêu cầu hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng và chống tội phạm đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng quốc tế phải hợp tác và có các biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này. Bởi lẽ, tội phạm quốc tế đã và luôn luôn là mối nguy hiểm rình rập cho đời sống xã hội, tội phạm không chỉ gây nguy hiểm cho một hay một vài quốc gia mà chúng có thể gây nguy hiểm trong phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, việc định danh các thể loại hành vi và các yếu tố cấu thành chúng phục vụ công tác phát hiện và xử lý chính là đòi hỏi quan trọng của các quốc gia trên toàn thế giới mà nhiệm vụ cụ thể hóa nó là Luật hình sự quốc tế. Đến lượt mình, Luật hình sự quốc tế đã quy định các tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế để truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm sự ổn định của hòa bình, an ninh nhân loại và bảo vệ quyền con người.

Lời nói đầu Quy chế Rome năm 1998 về ICC đã nhận thấy rằng trong thế kỷ này, hàng triệu trẻ em, phụ nữ và nam giới đã trở thành nạn nhân của những hành động tàn ác chưa từng thấy, gây chấn động lương tri nhân loại, các tội ác nghiêm trọng đó đe dọa hòa bình, an ninh và thịnh vượng của thế giới. Quy chế đã khẳng định rằng các tội ác nghiêm trọng nhất gây nên sự lo ngại của toàn thể cộng đồng quốc tế phải bị trừng trị và cần bảo đảm truy tố hiệu quả những tội phạm này bằng việc thực thi các biện pháp ở cấp độ quốc gia và tăng cường hợp tác quốc tế, đồng thời quyết tâm chấm dứt tình trạng lọt lưới pháp luật của những kẻ gây các tội ác nói trên và do vậy, góp phần ngăn ngừa những tội ác đó, trách nhiệm của mỗi quốc gia là thực hiện quyền tài phán hình sự của mình đối với những kẻ gây ra tội ác quốc tế. Do đó, Luật hình sự quốc tế đã xác định các tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân phạm tội ác nghiêm trọng này.

Khoa học Luật hình sự quốc tế đều thống nhất rằng tội phạm được phân chia thành tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sự chung.

Tội phạm quốc tế là những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đư­ợc quy định trong Luật hình sự quốc tế do Nhà nư­ớc, pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện một cách cố ý xâm phạm sự tồn tại của hòa bình và an ninh của nhân loại, xâm phạm đến quyền và tự do của con người. Theo các văn bản pháp lý quốc tế, tội phạm quốc tế bao gồm các nhóm tội phạm chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội và cộng đồng quốc tế như sau: 1) Tội phạm chiến tranh[18]; 2) Tội diệt chủng (Genocid)[19]; 3) Tội phạm chống loài ngư­ời[20] và; 4) Tội xâm phạm hòa bình[21]. Tất cả các tội phạm quốc tế này đã được cộng đồng quốc tế liệt kê các hành vi phạm tội cụ thể, đồng thời chúng đều đối lập các chuẩn mực chung của pháp luật, quy tắc chung của đời sống pháp lý quốc tế, cũng như nguyên tắc nhân đạo trong luật quốc tế, thậm chí đi ngược và làm xấu các chuẩn mực hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, dân tộc và Nhà nước, đặc biệt các tội phạm này đã xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, quyền dân tộc và quyền con người.

Trong khi đó, tội phạm có tính chất quốc tế lại được hiểu là các hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho nhân loại, cho xã hội thấp hơn so với tội phạm quốc tế, song chúng cũng xâm hại đến trật tự pháp luật quốc tế và các quyền lợi của cộng đồng quốc tế và lợi ích của các quốc gia. Đây là nhóm tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ của một số quốc gia khác nhau, hoặc trên một lãnh thổ nhất định có sự tranh chấp hoặc không thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia nào. Tuy nhiên, đối với nhóm tội phạm này, đã từ lâu cộng đồng quốc tế và các quốc gia trên thế giữa đều cùng thừa nhận rằng: việc phát hiện, truy nã và trừng trị chúng là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng quốc tế chứ không phải chỉ riêng một quốc gia nào bị tội phạm này xâm hại, để giữ vững an ninh, hòa bình quốc gia cho tất cả các quốc gia và toàn thế giới vì, cũng giống như tội phạm quốc tế, “các thiệt hại do tội phạm có tính chất quốc tế gây ra cho nhân loại vô cùng to lớn, không kể xiết...” [22].

Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, của giao lưu và hợp tác quốc tế, thì các tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế cũng ngày càng phát triển, mở rộng biên độ sang nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều loại tội phạm đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, có phạm vi hoạt động rộng lớn trong từng khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, những nhóm và tổ chức phạm tội đó có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ, có tiềm lực kinh tế mạnh và đặc biệt trong một số trường hợp có sự liên kết giữa các băng nhóm tội phạm quốc tế với các chính trị gia, các nhà tư bản tài chính, ngân hàng...[23]. Hiện nay, nhiều loại tội phạm có tính chất quốc tế đang là mối nguy hiểm cho các quốc gia trên thế giới, vì sự mở rộng tính quốc tế của tội phạm, như: tội phạm cướp biển, tội buôn bán nô lệ, phụ nữ và trẻ em, tội phạm khủng bố quốc tế, tội bắt cóc con tin, tội đe dọa an ninh hàng không - hàng hải quốc tế, tội buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đang là mối lo ngại của nhiều quốc gia[24]; v.v...

Còn tội phạm hình sự thường, về cơ bản cũng là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, mặc dù không xâm phạm đến trật tự pháp luật quốc tế, quyền lợi của cộng đồng quốc tế nhưng gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia, các quyền và lợi ích của con người. Do đó, yêu cầu hợp tác của các quốc gia để phòng, chống tội phạm vẫn là đòi hỏi thường xuyên, vì để xử lý được tội phạm và người phạm tội, trong một số trường hợp nếu không có sự trợ giúp của quốc gia khác, thì nhiệm vụ đó không thể hoàn thành được.

Như vậy, từ việc quy định các loại tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế, theo chúng tôi để làm tốt điều này và rộng hơn nữa là bảo vệ quyền con người, đòi hỏi Luật hình sự quốc tế cần thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

Một là, các quốc gia cần thường xuyên liên hệ, hợp tác và thông tin kịp thời về tội phạm và người phạm tội cho lẫn nhau để ngăn chặn kịp thời tội phạm xảy ra, không để tội phạm gây nguy hại cho xã hội và cộng đồng quốc tế;

Hai là, các quốc gia cần thỏa thuận, công nhận những hành vi nhất định nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm (hay danh mục), đồng thời có thể định danh được hành vi đó và được quy định trong luật hình sự trên cơ sở các điều ước, hiệp ước, thỏa ước quốc tế, cũng như có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những chủ thể thực hiện đó bằng các thủ tục tố tụng đầy đủ và chặt chẽ;

Ba là, ngoài việc hoàn thiện trên phương diện lập pháp hình sự để lấp đầy các khoảng trống trong Luật hình sự quốc tế khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế (về nội dung), thì việc phân định thẩm quyền xét xử, xác định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong các hoạt động tư pháp của mình (về hình thức, thủ tục) cũng là nhiệm vụ quan trọng, qua đó tránh trường hợp có hành vi phạm tội nào đó không thuộc phạm vi tài phán (xét xử) của bất kỳ quốc gia nào, qua đó mới bảo vệ được các quyền con người, quyền được các quốc gia được sống trong hòa bình, ổn định và phát triển, cũng như trật tự pháp luật quốc tế mới bảo đảm, công lý và lẽ phải mới được tồn tại, ổn định và phát triển.

3. Luật hình sự quốc tế quy định thẩm quyền xét xử (tài phán) để góp phần xét xử nghiêm minh, đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người. Trong Luật hình sự quốc tế, việc quy định thẩm quyền xét xử đối với các hành vi phạm tội đã được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và cộng đồng quốc tế, phạm vi gây nguy hiểm cho một hay nhiều quốc gia hay toàn cầu; v.v...

Tội phạm khi thực hiện gây nguy hại cho xã hội, cho hòa bình và an ninh của nhân loại và xâm phạm quyền con người thì thường được xét xử theo các cấp độ khác nhau. Đối với tội phạm quốc tế, việc xét xử được tiến hành tại Tòa án quốc tế như (Tòa án quốc tế Nurrumbe, Tôkyô, Tòa án hình sự quốc tế về Ruanđa và Nam Tư cũ, Tòa án hình sự quốc tế theo Quy chế Rome năm 1998) vì tính nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm quốc tế gây ra cho cộng đồng quốc tế.

Về cơ bản, như đã đề cập tội phạm quốc tế có thể bao gồm các nhóm chính sau: Tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội phạm chống loài ngư­ời và tội xâm phạm hòa bình. Tất cả các tội phạm quốc tế này đã được cộng đồng quốc tế liệt kê các hành vi phạm tội cụ thể, đồng thời chúng đều đi ngược lại các chuẩn mực chung của pháp luật, quy tắc chung của đời sống pháp lý quốc tế, cũng như nguyên tắc nhân đạo trong luật quốc tế, xâm phạm đến các chuẩn mực hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và Nhà nước, đặc biệt các tội phạm này đã xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, quyền dân tộc và quyền con người. Chính vì lẽ đó, nhân loại và cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao vai trò của các Tòa án có thẩm quyền xét xử các loại tội phạm này và gọi chung là Tòa án hình sự quốc tế. Về thẩm quyền xét xử/tài phán của Tòa án hình sự quốc tế (gọi tắt là ICC) theo Quy chế Rome năm 1998[25] được đề cập với các quy định như sau:

Thứ nhất, các tội phạm của thẩm quyền xét xử (tài phán) của ICC bao gồm: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống loài người và tội xâm lược. Đây là các tội phạm gây sự lo ngại và nguy hiểm nhất cho cộng đồng quốc tế. Quy chế Rome cũng đã ghi nhận định nghĩa và quy định cụ thể các yếu tố cụ thể của những loại tội phạm này, đồng thời ghi nhận các hành vi phạm tội cụ thể (ví dụ: quy định 05 hành vi cấu thành tội diệt chủng, 11 hành vi cấu thành tội chống loài người, 50 hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh; v.v...).

Thứ hai, Điều 12 Quy chế quy định điều kiện thực hiện quyền tài phán, thẩm quyền theo lãnh thổ và quyền tài phán đương nhiên. Theo đó, quốc gia trở thành thành viên của Quy chế này thì cũng chấp nhận quyền tài phán của Tòa án đối với các tội phạm nêu tại Điều 5. Trong trường hợp quy định tại khoản a hoặc c Điều 13, Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán nếu một hoặc nhiều quốc gia sau là thành viên của Quy chế này hoặc đã chấp nhận quyền tài phán của Tòa án theo quy định tại khoản 3: 1) Quốc gia mà trên lãnh thổ có tội phạm xảy ra hoặc quốc gia nơi đăng ký tàu thuyền hoặc tàu bay, nếu tội phạm được thực hiện trên tàu thuyền hay tàu bay; 2) Quốc gia mà người bị buộc tội là công dân. Như vậy, thẩm quyền theo lãnh thổ của ICC được Quy chế quy định một cách tương đối mở rộng, phục vụ Tòa án thực hiện tốt quyền tài phán của mình.

Thứ ba, điều kiện để thực hiện thẩm quyền tài phán của ICC cũng được quy định cụ thể trong Quy chế. Theo đó, căn cứ quy định tại đoạn 10 của Lời nói đầu và Điều 1, Tòa án quyết định không thụ lý vụ việc nếu: 1) Vụ việc đang được một quốc gia có quyền tài phán điều tra hoặc truy tố, trừ khi quốc gia đó không muốn hoặc không đủ khả năng tiến hành điều tra hoặc truy tố một cách thực sự; 2) Vụ việc đã được một quốc gia có quyền tài phán điều tra và quốc gia này đã quyết định không truy tố cá nhân liên quan, trừ khi quyết định đó xuất phát từ việc quốc gia này không muốn hoặc không đủ khả năng truy tố một cách thực sự; 3) Cá nhân liên quan đã bị xét xử về chính hành vi nêu trong đơn khiếu nại và Tòa án không được phép xét xử theo quy định tại Điều 20 khoản 3; 4) Vụ việc không đủ mức nghiêm trọng cần Tòa án giải quyết.

Do đó, để xác định việc một quốc gia không muốn điều tra, truy tố trong một trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ căn cứ vào các nguyên tắc tố tụng được thừa nhận trong luật quốc tế, xem xét có tồn tại một hoặc những yếu tố sau hay không: 1) Thủ tục tố tụng đã hoặc đang được tiến hành hoặc quyết định của các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó là nhằm bao che cho cá nhân liên quan khỏi trách nhiệm hình sự về những tội phạm thuộc quyền tài phán của Tòa án tại Điều 5; 2) Có sự trì hoãn vô lý trong việc tiến hành thủ tục tố tụng, trái với mục đích đưa cá nhân liên quan ra trước công lý; 3) Thủ tục tố tụng đã hoặc đang không được tiến hành độc lập hoặc công bằng hay đã hoặc đang được tiến hành theo cách thức trái với mục đích đưa cá nhân liên quan ra trước công lý.

Bên cạnh đó, để xác định việc một quốc gia không có khả năng điều tra, truy tố trong một trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ xem xét có phải do hệ thống tư pháp quốc gia bị sụp đổ hoàn toàn hay phần lớn hoặc do không có hệ thống tư pháp mà quốc gia đó không thể bắt giữ được người bị buộc tội hoặc thu thập được các chứng cứ và lời khai cần thiết hoặc không thể tiến hành tố tụng được hay không. Như vậy, việc xác định đúng quyền tài phán của ICC và các điều kiện thực hiện các quyền đó chính là bảo đảm sự “phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, tôn trọng chủ quyền quốc gia... bảo đảm cho ICC hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Điều đó cũng hạn chế được nguy cơ sử dụng ICC làm công cụ của quốc gia, tổ chức hoặc cá nhân vì mục đích chính trị”[26].

Khác với tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế lại không phải là đối tượng trực tiếp được giải quyết tại Tòa án hình sự quốc tế, mà lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án trong luật quốc gia, đồng thời các phán quyết được thi hành theo pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, các yêu cầu bắt buộc là khi quốc gia tiến hành xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, các điều ước, hiệp ước quốc tế mà các quốc gia đã tham gia ký kết. Nội dung và các nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán đối với các tội phạm có tính chất quốc tế đã được các quốc gia thành viên thống nhất và thông qua. Mỗi một lĩnh vực tương ứng đều có các điều ước, hiệp ước quốc tế ký kết giữa các thành viên để ngăn chặnxử lý các hành vi phạm tội. Các Công ước đã liệt kê ở trên là minh chứng cho điều này và thẩm quyền tài phán cũng đã được liệt kê cụ thể trong các Công ước tương ứng đó...[27].

Tóm lại, hiện nay để có cơ sở pháp lý chặt chẽ và đầy đủ xử lý các tội phạm có tính chất quốc tế, cũng như nâng cao sự hợp tác của cộng đồng quốc tế trong việc truy cứu và đưa ra xử lý các hành vi phạm tội đòi hỏi các quốc gia cần soạn thảo và tham gia ban hành, ký kết nhiều Công ước, hiệp ước để có cơ sở pháp lý bổ sung cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự và thiết lập quyền tài phán của quốc gia, đồng thời còn thể hiện nội dung: việc giữ gìn, tôn trọng và bảo vệ hòa bình, an ninh nhân loại, chủ quyền quốc gia và các quyền con người trước sự xâm hại và đe dọa xâm hại của tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế là trách nhiệm rất nặng nề và cao cả của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới.

4. Luật hình sự quốc tế quy định hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm để xử lý và bảo vệ quyền con người. Hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm nguy hiểm là một trong những yêu cầu quan trọng của việc hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm xử lý và truy cứu các hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội và cộng đồng quốc tế, cũng như xâm phạm đến các quyền và tự do của con người. Sở dĩ có hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm chính vì đây là khả năng duy nhất và quan trọng để thực hiện đầy đủ các hành vi tố tụng hình sự cần thiết ở nước ngoài. Mặc dù vậy, hoạt động tương trợ tư pháp, đặc biệt là dẫn độ tội phạm có liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia, do đó, đòi hỏi các quốc gia cần phải có quy định chặt chẽ và đầy đủ các điều ước, hiệp ước tư pháp liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm, để tránh xảy ra tranh chấp khi có công dân của một nước vi phạm pháp luật quốc tế. Đặc biệt, các hành vi tố tụng của các quốc gia có thẩm quyền tài phán chỉ thực sự thực hiện được đầy đủ và đưa người phạm tội ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật, trước cộng đồng quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của con người, nếu có sự tương trợ tư pháp của các cơ quan tư pháp nước tương trợ tư pháp.

Nội dung tương trợ tư pháp theo Luật hình sự quốc tế được ký kết giữa các quốc gia để điều chỉnh các nội dung liên quan đến thủ tục tố tụng như: tiến hành các hoạt động tác nghiệp, lấy lời khai, hỏi cung nhân chứng - bị cáo, nghiệp vụ điều tra, trưng cầu ý kiến chuyên gia, thực hiện các hoạt động khám xét, chuyển giao vật chứng, chuyển giao và tiếp nhận các loại giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc, truy tìm người phạm tội, các thông tin cá nhân - nhân thân của người phạm tội... Những nội dung này được ghi nhận cụ thể trong các điều ước quốc tế song phương hay đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia để đấu tranh phòng, chống một hay nhiều loại tội phạm cụ thể như: tội phạm khủng bố, buôn lậu, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; v.v...

Trong khi đó, dẫn độ tội phạm cũng là một nội dung quan trọng của Luật hình sự quốc tế, chế định này bên cạnh ý nghĩa buộc những người gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, còn có vai trò thể hiện sự hợp tác của các quốc gia trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp trong đó có dẫn độ, hoặc giữa các quốc gia ký kết hiệp định tương trợ dẫn độ chính là hình thức hợp tác quốc tế song phương hay đa phương trong lĩnh vực Luật hình sự quốc tế. Tuy nhiên, dẫn độ tội phạm lại “động chạm” đến chủ quyền quốc gia và các quyền lợi của quốc gia trong đó, có quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, giải quyết vấn đề nhạy cảm này, đòi hỏi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế liên quan đến các điều ước về dẫn độ cần đầy đủ về nội dung, chặt chẽ về thủ tục và phải là cơ sở pháp lý để ngăn ngừa tội phạm, nhưng quan trọng hơn vẫn phải tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Dẫn độ tội phạm là một hình thức trợ giúp pháp lý quan trọng trong việc thực hiện thẩm quyền tài phán của quốc gia trong lĩnh vực hình sự. Các hoạt động liên quan đến dẫn độ thuộc và chỉ thuộc quốc gia có quyền ký kết các điều ước quốc tế. Do đó, dẫn độ là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của quốc gia. Nói chung, thực tiễn quốc tế đều khẳng định, cơ sở pháp lý của dẫn độ thông thường được dựa trên pháp luật quốc gia hay các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia về tương trợ tư pháp, về phòng chống các loại tội phạm có tính chất quốc tế. Vì vậy, hiện nay các quốc gia đã thống nhất danh mục các loại tội phạm cần phải dẫn độ, tiêu chuẩn và chế tài áp dụng, cũng như trình tự, thủ tục, nguyên tắc và điều kiện dẫn độ tội phạm.

Trong các nguyên tắc dẫn độ tội phạm, bên cạnh nguyên tắc có đi có lại để thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, trong việc cùng nhau xử lý tội phạm, không có sự bao che, bảo kê cho tội phạm. Ngoài ra, cũng còn có nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình khi một nước yêu cầu dẫn độ công dân nước họ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án. Đây cũng chính là sự thể hiện quốc gia bảo vệ quyền con người cho công dân nước mình, song vẫn phải chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền trong quốc gia để tiến hành giải quyết vụ việc đó theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự nói chung. Song, nguyên tắc này lại không được áp dụng trong trường hợp công dân của nước đó phạm các tội phạm quốc tế (tội phạm chiến tranh, chống loài người, diệt chủng, xâm lược) thì các quốc gia mà công dân là thành viên phải dẫn độ công dân cho nước ngoài xét xử, xử lý các tên phạm các tội ác quốc tế, bảo vệ sự bình yên của cộng đồng thế giới, chống lại các hành động tội ác và không khoan nhượng trước bất kỳ cá nhân nào.

5. Luật hình sự quốc tế quy định việc thành lập các tổ chức thành viên để thực hiện chức năng và nhiệm vụ giữ gìn an ninh thế giới, bảo vệ quyền con người. Thập kỷ 90 của thế kỷ XX đ­ược đánh dấu bằng xu thế hội nhập của các nước ở các khu vực và trên thế giới. Trước xu thế tất yếu và khách quan này, đòi hỏi sự hợp tác của các nư­ớc trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như cần soạn thảo các ch­ương trình quốc tế trong lĩnh vực này nhằm bảo vệ hòa bình, an ninh quốc gia và quốc tế, cũng như các quyền con người. Do đó, để bảo vệ vững chắc và ổn định những giá trị cao quý này, đòi hỏi phải có các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện và có hệ thống chặt chẽ, cũng như quyết tâm hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của mình trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế.

Lời nói đầu Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 đã tuyên bố khẳng định quyết tâm của các quốc gia thành viên: “Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã xảy ra hai lần trong đời chúng ta, gây cho nhân loại đau thương không kể xiết”. Do đó, mục đích của Liên Hợp quốc là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá hoại hòa bình khác, phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hoà bình thế giới, qua đó cần thúc đẩy, khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo và trở thành trung tâm hòa hợp mọi hành động của các dân tộc, nhằm đạt được những mục đích chung nói trên. Kể từ khi thành lập năm 1948 đến nay, Liên Hợp quốc đã tích lũy đư­ợc những kinh nghiệm quý báu và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Các cơ quan chủ yếu của Liên Hợp quốc hoạt động trong lĩnh vực này như Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Ban thư­ ký, cũng như­­ một số các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp quốc và các tổ chức khác không thuộc hệ thống của Liên Hợp quốc. Trong số các nhiệm vụ, thì việc phối hợp và hỗ trợ cho sự hợp tác của các quốc gia trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong những hình thức và phương thức hoạt động của Liên Hợp quốc.

Đại Hội đồng Liên Hợp quốc là cơ quan giữ vai trò chính trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trên phạm vi toàn cầu, đồng thời xem xét các vấn đề mà các quốc gia khiếu nại về việc thực hiện các tội phạm cụ thể và các hành vi xâm chiếm lãnh thổ; v.v...[28].

Trong khi đó, Hội đồng Kinh tế và Xã hội là cơ quan chủ yếu của Liên Hợp quốc quyết định các nhiệm vụ và phối hợp việc tổ chức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng và chống tội phạm. Ủy ban thư­ờng trực của Hội đồng này là Ủy ban của Liên Hợp quốc về ngăn ngừa và đấu tranh chống tình trạng phạm tội. Hội đồng này có thể thực hiện hoặc đề xuất việc nghiên cứu và làm báo cáo về vấn đề quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế và những lĩnh vực liên quan khác, và có thể đưa ra khuyến nghị về những vấn đề này cho Đại hội đồng, các thành viên Liên Hợp quốc và các tổ chức chuyên môn hữu quan. Ủy ban của Liên Hợp quốc về ngăn ngừa và đấu tranh chống tình trạng tội phạm đã nêu thực hiện các chức năng cơ bản như soạn thảo các ch­ương trình hợp tác quốc tế trong việc đấu tranh ngăn ngừa và chống tình hình tội phạm, đồng thời chuyển các chương trình này cho các cơ quan và các tổ chức hữu quan của Liên Hợp quốc để thảo luận; hỗ trợ cho Hội đồng Kinh tế và Xã hội và Tổng thư­ ký Liên Hợp quốc trong việc phối hợp hoạt động của các cơ quan và các tổ chức hữu quan của Liên Hợp quốc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về đấu tranh chống tội phạm; v.v...

Ngoài ra, Liên Hợp quốc còn có hàng loạt các tổ chức quốc tế khác thực hiện chức năng của mình mà đáng chú ý nhất là Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol). Hiện nay, đã có trên 180 nước tham gia tổ chức này. Việt Nam đã gia nhập năm 1992. Nguyên tắc hoạt động của Interpol là tất cả các cơ quan có chức năng phòng ngừa, khám phá, điều tra, truy nã tội phạm ở các nước đều có thể hợp tác trong khuôn khổ Interpol. Các nước thành viên chỉ hợp tác đấu tranh chống các tội phạm hình sự thường, không tham gia điều tra các vụ án mang tính chất chính trị, tôn giáo, quân sự hoặc phân biệt chủng tộc (Điều 3 Hiến chương Interpol). Các nguyên tắc này để bảo đảm và phát triển sự hợp tác rộng rãi của tất cả các cơ quan cảnh sát hình sự trong phạm vi khuôn khổ pháp luật hiện hành của các nước và theo tinh thần của các Công ước quốc tế về quyền con người. Ngoài ra, việc thành lập Interpol còn để thành lập và phát triển các cơ quan có khả năng phòng ngừa và đấu tranh với các tội phạm một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội.

Còn đối với khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam thì Hiệp hội cảnh sát các nước ASEAN (Aseanapol) thành lập vào ngày 08/08/1967 đã từng bước khẳng định tính chất, tầm quan trọng trong các mối liên hệ quốc tế và khu vực trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm xuất phát từ quan điểm hòa bình và an ninh là điều kiện tất yếu đối với sự phát triển của mỗi nước và của cả khu vực, an ninh của mỗi quốc gia gắn bó hữu cơ với an ninh chung của cả khu vực. Mục tiêu bao trùm là hợp tác xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định để các nước có thể tập trung vào ưu tiên cao nhất là phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động trấn áp tội phạm và sự hợp tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật...[29]. Tương tự, trên thế giới còn tồn tại một số tổ chức quốc tế có nhiệm vụ tương tự cơ quan trên như: Ủy ban Châu Âu về các vấn đề hình sự, Ủy ban Liên Hợp quốc về ma túy, Liên đoàn Luật hình sự quốc tế, Hội đấu tranh chống tội phạm quốc tế, Hội Tội phạm học quốc tế... Những tổ chức này cũng có vai trò nhất định, đóng góp không nhỏ trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm quốc tế, giữ gìn an ninh trật tự pháp luật quốc tế và bảo vệ cộng đồng quốc tế.

 

IV. TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ - MỘT THIẾT CHẾ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG CỦA LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ TRONG VIỆC XÉT XỬ TỘI PHẠM, BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

1. Vài nét về Tòa án hình sự quốc tế. Ngày 17/7/1998, lịch sử luật pháp thế giới đã có một mốc quan trọng đáng nhớ: theo Nghị quyết của Liên Hợp quốc, một Tòa án hình sự quốc tế (ICC) thường trực đã được chính thức thành lập theo Quy chế Rome. Đây có thể coi là một “thắng lợi của công lý, lẽ phải và lương tri của toàn cầu[30] trên phạm vi toàn thế giới.

ICC là Tòa án thường trực dựa trên cơ sở hiệp ước nhằm giải quyết trách nhiệm hình sự của các cá nhân đối với các tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất liên quan đến toàn thể cộng đồng quốc tế với mục đích là nhằm buộc các cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự đã được liệt kê trong danh sách những vi phạm nghiêm trọng và có mức độ lớn đến những giá trị chung của xã hội, của nhân loại và của con người.

ICC có thẩm quyền xét xử các tội phạm diệt chủng, tội phạm chống loài người, tội phạm chiến tranh và tội phạm xâm lược, đây chính là các tội ác nghiêm trọng nhất trong xã hội chống lại loài người. ICC là “một trong những thành tựu quan trọng nhất của loài người trong nỗ lực tìm kiếm công lý cho những nạn nhân của các tội ác nghiêm trọng nhất diễn ra tại bất kỳ đâu trên thế giới”[31]. Tuy vậy, ICC không phải là cơ quan siêu quốc gia, nó chỉ là sự mở rộng thẩm quyền pháp lý hình sự quốc gia, đồng thời không hề xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, song ICC đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người theo pháp luật nhân đạo quốc tế, chống lại tình trạng vô pháp luật và chủ nghĩa khủng bố vì một nề pháp quyền trên thế giới, vì chính sách hòa bình, công lý, bình đẳng, tự do và hữu nghị hợp tác phát triển giữa các quốc gia trên thế giới. ICC chỉ hành động khi quốc gia liên quan không thể hay không muốn thực hiện thẩm quyền của mình, ICC đóng góp cho công lý và vì một nền hòa bình, an ninh thế giới.

2. Mối liên hệ giữa Tòa án hình sự quốc tế và Liên Hợp quốc. ICC có mối quan hệ với Liên Hợp quốc trên cơ sở một thỏa thuận được Hội đồng quốc gia thành viên Quy chế Rome thông qua và do Chánh án Tòa án đại diện cho Tòa án ký. Trên cơ sở này, ICC và Liên Hợp quốc tôn trọng và thừa nhận lẫn nhau về thẩm quyền lẫn tư cách của nhau. Mặc dù do Liên Hợp quốc thành lập ra nhưng ICC vẫn hoạt động độc lập với Liên Hợp quốc, lấy việc tuân thủ pháp luật, bảo vệ công lý và lẽ phải là hàng đầu. Ngoài ra, ICC và Liên Hợp quốc còn có các hoạt động hợp tác về nhiều vấn đề khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp như: cung cấp các thông tin, tài liệu, việc làm chứng trước tòa, các trường hợp các quốc gia bất hợp tác.... Vai trò của Hội đồng Bảo an đối với ICC trong việc thực hiện quyền tài phán, là cơ sở để ICC thực hiện quyền này của mình, cũng như hoãn các hoạt động điều tra, truy tố của Tòa án (Điều 16 Quy chế Rome). Đặc biệt, vai trò của Hội đồng Bảo an đối với việc đưa ra định nghĩa tội ác xâm lược (khoản 2 Điều 5 Quy chế Rome).

3. Tòa án hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người. Quy chế Rome về ICC là một trong những văn bản pháp luật hình sự quốc tế trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền con người trước các tội ác nghiêm trọng xâm phạm đến nhân quyền, đòi hỏi phải bị trừng trị. Việc gia nhập ICC của các quốc gia chính là hành động kiên quyết đấu tranh và xử lý các tội phạm quốc tế, bảo vệ các nạn nhân và các quốc gia. Cụ thể hóa việc bảo vệ quyền con người, vai trò của ICC thể hiện qua các  nội dung sau:

Một là, ICC được thành lập ra để trừng trị và xét xử các tội ác nghiêm trọng xâm phạm đến hòa bình và an ninh của nhân loại, xâm phạm đến trật tự pháp luật quốc tế và đặc biệt là xâm phạm đến quyền con người, quyền được sống và bảo vệ trong an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và hạnh phúc của mình, cũng như an ninh quốc gia của các Nhà nước trên thế giới.

Hai là, ICC xây dựng nguyên tắc, cơ chế, trình tự, thủ tục để tiến hành xử lý các cá nhân thực hiện các tội ác nghiêm trọng xâm phạm đến hòa bình và an ninh của nhân loại, xâm phạm đến các quyền và tự do của con người. Những trình tự, thủ tục này bên cạnh việc xử lý những đối tượng xâm phạm đến các lợi ích đã nêu, song vẫn bảm đảm quyền con người cho chính các đối tượng đó trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, cụ thể là quyền của người liên quan trong điều tra, quyền được suy đoán vô tội và quyền của bị cáo khi xét xử.

Ba là, ICC ra đời còn để tạo ra một cơ chế đặc biệt nhằm bảo vệ các nạn nhân của tội phạm và gia đình của họ thông qua việc thiết lập một Ban Nạn nhân và Quỹ tín thác nạn nhân, qua đó giải quyết vấn đề bồi thường cho nạn nhân. Với ý nghĩa này, ICC đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ quyền của nạn nhân, quyền được bồi thường và bảo vệ quyền con người.

Ngoài ra, ICC có quyền áp dụng các hình phạt nghiêm khắc để xử những người phạm tội, nhưng vẫn bảo đảm nhân đạo và vì mục đích cải tạo, giáo dục những người phạm các tội ác quốc tế. Bên cạnh đó, ICC là trung tâm hợp tác để các quốc gia phối hợp với nhau nhằm duy trì và gìn giữ công lý, công bằng trên thế giới và của chính các quốc gia thành viên. ICC được thành lập theo Quy chế này bổ sung cho quyền tài phán hình sự quốc gia, đồng thời để quyết tâm bảo đảm sự tôn trọng và việc thi hành công lý quốc tế trên toàn thế giới. Do đó, ICC chính là một Tòa án công bằng, độc lập và hiệu quả, qua đó nâng cao nhận thức của công chúng, của xã hội về vấn đề tư pháp và quyền con người, cũng như việc cải thiện các nội dung này trong hệ thống tư pháp và hệ thống pháp luật của các quốc gia.

 

V. NỘI DUNG CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VÀ THI HÀNH ÁN

Ngoài các nội dung chính của Luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người, cũng như vai trò của Tòa án hình sự quốc tế như một thiết chế pháp lý quan trọng của Luật hình sự quốc tế, thì còn một nội dung nữa là Luật hình sự quốc tế cũng bảo vệ đối tượng đã xâm phạm đến quyền con người. Nếu như cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, thì về mặt pháp lý, họ có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã gây ra, song dù họ có thực hiện tội phạm nghiêm trọng thế nào, thì vẫn là con người, nên vẫn có quyền con người. Do đó, khi họ bị bắt giữ, họ cũng cần được Luật hình sự quốc tế tôn trọng và bảo vệ trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đây chính là chuẩn mực pháp lý và thể hiện ý nghĩa nhân văn, cũng như thể hiện nguyên tắc công bằng và nhân đạo của Luật hình sự quốc tế.

1. Luật hình sự quốc tế quy định các quy tắc và tiêu chuẩn về bảo vệ quyền con người trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Các quyền con người của người bị điều tra, truy tố và xét xử được tôn trọng và bảo đảm bằng các quy định của luật pháp quốc tế trong Hiến chương Liên Hợp quốc và các công ước quốc tế. Có thể kể đến các quyền này liên quan trực tiếp trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử dưới đây.

Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng là quyền trước tiên được bảo vệ. Quyền này là tiền đề cho việc bảo đảm các quyền con người trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, nhưng đặc biệt có ý nghĩa rất lớn trong việc tôn trọng và bảo đảm các quyền con người trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử...[32]. Mọi người cũng đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) quy định, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Quyền này biểu hiện cụ thể ở việc không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ, việc tước tự do của một người phải có lý do và theo đúng những thủ tục luật pháp.

Quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục cũng là một quyền con người quan trọng được Luật hình sự quốc tế bảo vệ. Hội nghị thế giới về quyền con người đã nhấn mạnh rằng: một trong những vi phạm nhân phẩm con người, vi phạm quyền con người thô bạo nhất là hành động tra tấn. Hành động này phá hoại nhân phẩm và làm tổn thương khả năng tiếp tục sống và hoạt động của các nạn nhân. Theo đó, quyền này được quy định trong Điều 7 ICCPR. Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó. Mặc dù vậy, để hiểu được quyền này, ở đây cần liên hệ với khái niệm “tra tấn được quy định trong Công ước về chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục con người (CAT) được thông qua ngày 1/12/1984 và có hiệu lực từ ngày 26/6/1987 (ngày 26/6 đã được công nhận là ngày Quốc tế hỗ trợ nạn nhân bị tra tấn). Theo Ủy ban giám sát thực hiện Công ước của Liên Hợp quốc, tương tự như quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục con người cũng không thể bị vi phạm trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia. Do đó, các quốc gia trong phạm vi của mình có nghĩa vụ thực hiện tất cả các biện pháp về lập pháp, hành chính và tư pháp để bảo vệ công dân khỏi bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục xuất phát từ bất kỳ chủ thể nào, cho dù là Nhà nước, một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Điều 11 ICCPR cũng quy định, không ai bị bỏ tù chỉ vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Quy định này trên thực tế là sự bổ sung cho quyền tự do và an toàn cá nhân.

Quyền được suy đoán vô tội là một quyền quan trọng trong luật pháp quốc gia và quốc tế. Quyền được coi là vô tội đến khi tội phạm được chứng minh theo pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tố tụng kể từ giai đoạn khởi tố bị can đến suốt quá trình xét xử của Tòa án và bản án có hiệu lực pháp luật. Khoản 2 Điều 14 ICCPR quy định: “Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”.

Bên cạnh đó, quyền được thông báo lời buộc tội không chậm trễ, được sử dụng và hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong tố tụng và những người bị buộc tội phải: “Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình”. Bị cáo có quyền có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa. Bất kỳ ai bị bắt giữ đều phải được thông báo ngay khi bị bắt về lý do của việc bắt giữ, và phải được thông báo ngay bất kỳ những lời buộc tội nào đối với người đó. Theo đó, quyền được thông báo về lời buộc tội bằng một ngôn ngữ thích hợp đặt ra nghĩa vụ cho các cơ quan tiến hành tố tụng phải cung cấp cho những người bị buộc tội người phiên dịch, trong trường hợp họ không hiểu được đầy đủ hoặc không nói được ngôn ngữ mà các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng. Quyền này đặc biệt có ý nghĩa với người nước ngoài hoặc người thuộc các dân tộc thiểu số. Việc được thông báo không chậm trễ về lý do buộc tội và được sử dụng, hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng mình trong tố tụng là những điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và người bị bắt giữ. Theo Ủy ban giám sát ICCPR, quyền này phải được “áp dụng với tất cả các trường hợp bị buộc tội hình sự, bao gồm cả những người không bị giam giữ”. Ủy ban này cũng cho rằng, thuật ngữ “ngay lập tức” đòi hỏi lời buộc tội phải được cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra càng sớm càng tốt, kèm theo những mô tả về quyết định đó, dưới hình thức nói hoặc văn bản. Liên tiếp để cụ thể hóa quyền này, trong Luật hình sự quốc tế còn thể hiện nhiều quyền khác như: Quyền được bào chữa và trợ giúp pháp lý ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ để bảo vệ sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần của người bị tước tự do. Điểm a khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định rằng, một người bị cáo buộc phạm tội phải được có thời gian thích đáng và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn.

Hay quyền không bị buộc phải chứng minh chống lại chính mình (điểm g khoản 3 Điều 14 ICCPR), quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị, được lập ra theo pháp luật. Về quyền này, khoản 1 Điều 14 ICCPR quy định: Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Báo chí và công chúng có thể không được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên tòa vì lý do đạo đức. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải được tuyên công khai, trừ trường hợp vì lợi ích của người chưa thành niên hay vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em.

Cấm áp dụng hồi tố cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự và đã được khẳng định trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo Điều 15 ICCPR, không ai bị coi là phạm tội vì một hành động hoặc không hành động mà không cấu thành tội phạm theo pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế tại thời điểm thực hiện hành vi đó. Ngoài ra, cũng theo Điều 15 ICCPR, nếu sau khi xảy ra hành vi phạm tội mà luật pháp quy định hình phạt nhẹ hơn với hành vi đó, thì người phạm tội được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn; v.v...

Như vậy, những quyền này được Luật hình sự quốc tế ghi nhận chính là cơ sở để các quốc gia, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, qua đó bảo đảm quyền con người của người bị truy tố, điều tra, xét xử và thi hành án.

2. Luật hình sự quốc tế quy định các chuẩn mực (quy tắc) quốc tế tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử đối với tù nhân để bảo vệ quyền con người. Như đã đề cập, nhiệm vụ của Luật hình sự quốc tế là bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, đồng thời điều chỉnh sự phối hợp hoạt động của các quốc gia trong việc đấu tranh phòng, chống những tội phạm quốc tế và những tội phạm có tính chất quốc tế, qua đó bảo vệ vững chắc quyền và tự do của con người, của công dân trong mỗi quốc gia trên toàn nhân loại. Tuy nhiên, khi những hành vi xâm phạm đến các lợi ích đó bị xử lý và người thực hiện chúng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc phải chịu trách nhiệm trước Luật hình sự quốc tế, thì họ cũng là con người, nên cũng được bảo vệ các quyền con người của mình khi với tư cách là tù nhân. Theo đó, Liên Hợp quốc đã soạn thảo và thông qua các chuẩn mực quốc tế, trong đó có các quy chuẩn trong mối quan hệ với người bị giam giữ. Theo đó, năm 1955, các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ nhất của Liên Hợp quốc về ngăn ngừa tội phạm và đối xử với người phạm tội, tổ chức tại Giơnevơ và được Hội đồng Kinh tế - Xã hội phê chuẩn bằng các Nghị quyết 663C (XXIV) ngày 31/7/1957 và 2076 (LXII) ngày 13/5/1977. Nội dung của Quy tắc này bao gồm hai phần chính:

1) Phần I của các quy tắc liên quan đến việc quản lý tổng thể các nhà tù và áp dụng cho mọi loại tù nhân, dù là hình sự hay dân sự, chưa xét xử hay đã bị kết án, kể cả những tù nhân chịu “các biện pháp an ninh” hay các biện pháp cải tạo theo lệnh của thẩm phán;

2) Phần II gồm những quy tắc chỉ áp dụng cho các loại tù nhân đặc biệt được đề cập ở mỗi mục. Tuy nhiên, các quy tắc trong mục A áp dụng cho những tù nhân đang thụ án cũng phải được áp dụng cho các loại tù nhân nêu trong mục B, C và D, miễn là không mâu thuẫn với những quy tắc dành cho các loại tù nhân đó và có lợi cho họ.

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân được xây dựng bởi các nguyên tắc không được phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác. Mặt khác, cần phải tôn trọng tín ngưỡng và giáo lý của tù nhân.

Trong các nội dung Phần I của Quy tắc - Các quy tắc áp dụng chung quy định rõ ở mọi nơi có người bị phạt tù đều phải có sổ đăng ký theo dõi bắt buộc có đánh số trang và ghi chép về mỗi tù nhân nhận vào thông tin liên quan đến danh tính, nguyên nhân bắt giữ và cơ quan có thẩm quyền bắt giữ, ngày giờ tiếp nhận và trả tự do. Không được phép tiếp nhận ai vào tù nếu không có lệnh bắt giam hợp pháp và các chi tiết của lệnh bắt giam phải được ghi nhận trước vào sổ đăng ký. Các loại tù nhân khác nhau phải được giam trong các nhà tù hoặc các khu riêng biệt của nhà tù có tính đến độ tuổi, giới tính, lý lịch phạm tội, lý do pháp lý của việc giam giữ và những điều cần thiết trong đối xử với họ. Việc nơi ăn chốn ở cho tù nhân và đặc biệt là nơi ngủ phải đáp ứng được các yêu cầu về y tế, có chú ý đúng mức đến các điều kiện khí hậu và đặc biệt là các điều kiện về dung tích không khí, diện tích sàn tối thiểu, ánh sáng, sưởi ấm và thông hơi. Ngay cả khu vệ sinh phải thỏa đáng để mọi tù nhân có thể đáp ứng được nhu cầu tự nhiên khi cần thiết và phải sạch, tươm tất. Mỗi tù nhân không được phép mặc quần áo của mình thì phải được cung cấp quần áo vừa với người, phù hợp với khí hậu và đủ để giữ sức khỏe. Những quần áo này không được thể hiện sự hạ nhục hay lăng mạ. Trong những trường hợp ngoại lệ, bất cứ khi nào một tù nhân được chuyển đi khỏi nhà tù vì lý do được phép nào đó, người đó phải được phép mặc quần áo riêng của mình hay quần áo khác để không ai biết mình là tù nhân.

Lương thực, thực phẩm phải đủ dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe và thể lực, đủ chất. Tại mỗi nhà tù phải có ít nhất là một cán bộ y tế có đủ trình độ, có một số kiến thức về tâm sinh lý cung cấp dịch vụ. Các dịch vụ y tế cần được tổ chức trong mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan quản lý y tế chung của cộng đồng hay của quốc gia, đáp ứng được yêu cầu về chăm sóc y tế và điều trị cho tù nhân bị ốm, và phải có đội ngũ nhân viên được đào tạo thích hợp. Cán bộ y tế phải báo cáo cho giám đốc nhà tù bất cứ khi nào người đó thấy sức khỏe thể chất hay tâm thần của một tù nhân đã hay sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tiếp tục ở tù, hoặc do bất kỳ điều kiện nào trong tù.

Ngay các quy tắc chuẩn mực về kỷ luật và trừng phạt sự vi phạm cũng bảo vệ quyền con người của phạm nhân vi phạm Quy tắc cũng quy định rõ ràng. Theo đó, không được sử dụng bất cứ tù nhân nào để phục vụ nhà tù dưới mọi hình thức kỷ luật. Không tù nhân nào bị trừng phạt trừ khi theo pháp luật hoặc quy định như đã nêu trên và không bao giờ bị trừng phạt hai lần cho cùng một vi phạm. Đặc biệt, nhục hình, hình phạt bằng cách nhốt vào buồng tối và tất cả những hình phạt độc ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm với tư cách là những hình phạt cho các tội vi phạm kỷ luật phải bị cấm hoàn toàn, cũng như không bao giờ được áp dụng hình phạt giam kín hoặc cắt bớt khẩu phần ăn.

Quyền được thông tin cũng đề cập trong Quy tắc này, theo đó, mọi tù nhân khi vào nhà tù phải được cung cấp thông tin dưới dạng văn bản về quy định về đối xử với loại tù nhân như người đó, yêu cầu về kỷ luật của nhà tù, các biện pháp được phép để có thông tin, để khiếu nại và mọi vấn đề khác cần thiết để người tù có thể hiểu quyền hạn và nghĩa vụ của mình và nhằm điều chỉnh bản thân cho phù hợp với đời sống trong tù. Ngoài ra, dưới sự giám sát cần thiết, tù nhân phải được phép tiếp xúc với gia đình và bạn bè tốt của họ vào những thời gian thường lệ, cả bằng thư từ lẫn thăm viếng; v.v...

Trong các nội dung Phần II của Quy tắc - Những quy tắc áp dụng cho các loại tù nhân đặc biệt theo các nguyên tắc chỉ đạo trừ khi có lý do chính đáng để cách ly một người hay để duy trì kỷ luật, hệ thống nhà tù phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ vốn có trong trường hợp như vậy. Mục đích và lý do chính của việc kết án tù hay của một biện pháp tước bỏ tự do tương tự là để bảo vệ xã hội chống lại tội phạm. Mục đích này chỉ có thể đạt được nếu thời gian ngồi tù được sử dụng để bảo đảm, trong khả năng lớn nhất có thể, rằng khi người phạm tội trở về xã hội thì họ không chỉ sẵn sàng mà còn có khả năng sống tuân theo pháp luật và tự nuôi sống được bản thân. Chế độ nhà tù phải tìm cách giảm đến mức thấp nhất những khác biệt giữa cuộc sống trong tù với cuộc sống tự do vốn có xu hướng làm giảm bớt trách nhiệm của tù nhân hay sự tôn trọng cần có đối với phẩm giá của họ với tư cách là những con người.

Trong việc đối xử với tù nhân, cần nhấn mạnh rằng không phải là họ bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, mà vẫn tiếp tục là một bộ phận của cộng đồng. Bởi vậy, các tổ chức cộng đồng cần tranh thủ bất cứ lúc nào có thể để giúp đội ngũ nhân viên nhà tù làm nhiệm vụ tái hòa nhập xã hội cho tù nhân. Cần có mối liên hệ với tất cả cán bộ xã hội trong nhà tù là những người có nhiệm vụ duy trì và cải thiện mọi mối quan hệ đáng có của tù nhân với gia đình họ và với các tổ chức xã hội quan trọng. Trong chừng mực tối đa phù hợp với pháp luật và bản án, cần tiến hành các bước để bảo vệ những quyền liên quan đến các lợi ích dân sự, quyền bảo hiểm xã hội và các phúc lợi xã hội khác của tù nhân.

Việc đối xử với tù nhân chịu án tù hoặc một biện pháp tương tự phải nhằm mục đích, nếu thời gian chịu án cho phép, làm hình thành trong họ ý muốn sống theo pháp luật và tự nuôi sống bản thân sau khi được thả và tạo điều kiện cho họ làm được như vậy. Việc đối xử với tù nhân phải theo hướng khuyến khích lòng tự trọng và phát triển ý thức trách nhiệm của họ. Với mỗi tù nhân có một thời hạn chịu án phù hợp thì ngay sau khi họ vào tù, giám đốc nhà tù phải có các báo cáo đầy đủ về mọi vấn đề được nêu ở đoạn trên. Những báo cáo này luôn gồm một báo cáo của cán bộ y tế (có trình độ về tâm thần học bất cứ khi nào có thể) về tình trạng thể chất và tâm thần của tù nhân.

Lao động nhà tù không được mang tính chất khổ sai. Mọi tù nhân đang chấp hành án đều phải lao động, tùy thuộc vào sức khỏe thể chất và tâm thần của họ, do cán bộ y tế xác định. Phải có đào tạo nghề trong các công việc hữu ích cho tù nhân để họ có thể kiếm sống bằng nghề đó, đặc biệt là cho những tù nhân trẻ tuổi. Tuy nhiên, những lợi ích của tù nhân và của việc đào tạo nghề cho họ phải không được sử dụng vào mục đích kiếm lợi cho một ngành công nghiệp trong nhà tù.

Về giáo dục, giải trí phải có quy định về việc ưu tiên giáo dục cho tất cả những tù nhân có khả năng hưởng lợi ích từ giáo dục, kể cả các giáo lý tín ngưỡng ở những quốc gia có thể thực hiện được điều này. Giáo dục cho người mù chữ và tù nhân trẻ là bắt buộc và ban quản lý nhà tù phải chú ý đặc biệt đến việc này. Các hoạt động giải trí và văn hóa phải có ở mọi nhà tù để phục vụ cho sức khoẻ thể chất và tâm thần của tù nhân. Ngay cả khi ra tù, Quy tắc cũng khuyến nghị phải chú ý đặc biệt đến việc duy trì và cải thiện những mối quan hệ giữa tù nhân và gia đình ở mức cần có vì lợi ích tốt nhất của cả hai bên. Các dịch vụ và các tổ chức thuộc chính phủ hay ngoài chính phủ giúp đỡ người ra tù để họ tái lập lại vị trí của mình trong xã hội, trong chừng mực có thể và cần thiết, phải đảm bảo rằng người ra tù phải được cấp những tài liệu thích hợp và những giấy tờ chứng minh cần thiết, phải có nhà ở và công việc làm thích hợp, phải có đầy đủ quần áo phù hợp theo mùa và khí hậu, phải có đủ phương tiện để đi đến nơi họ ở và duy trì cuộc sống của bản thân trong khoảng thời gian ngay sau khi được thả.

Đặc biệt, những người được phát hiện là bị điên không bị đưa vào nhà tù, và phải thu xếp để đưa họ vào những cơ sở tâm thần càng sớm càng tốt. Những tù nhân bị các bệnh tâm thần khác hay tâm thần không bình thường phải được theo dõi và điều trị trong các cơ sở chuyên biệt, có sự quản lý về y tế. Thông qua việc thu xếp với các tổ chức thích hợp, cần tiến hành các bước nhằm bảo đảm việc điều trị được tiếp tục sau khi ra tù và phải có những quan tâm về mặt tâm thần - xã hội.

Còn đối với tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử, quyền của họ cũng được bảo đảm, cụ thể, tù nhân chưa thành án được coi là vô tội và phải được đối xử như vậy. Tù nhân chưa thành án phải được giam giữ riêng với tù nhân đã tuyên án. Tù nhân chưa thành án phải được phép mặc quần áo của mình nếu nó sạch và phù hợp.

Một tù nhân chưa thành án phải được phép thông báo ngay cho gia đình mình về việc bị bắt giữ và phải được cung cấp những tiện nghi hợp lý để liên lạc với gia đình và bạn bè người đó, để tiếp gia đình và bạn bè tới thăm, và chỉ chịu sự hạn chế, giám sát trong chừng mực cần thiết cho lợi ích của việc quản lý tư pháp và an ninh trật tự của nhà tù. Với các mục đích bào chữa cho mình, một tù nhân chưa thành án phải được phép nhận sự giúp đỡ pháp lý miễn phí ở nơi nào có sẵn sự trợ giúp này, được phép tiếp cố vấn pháp luật của mình nhằm mục đích phục vụ việc bào chữa, và được phép chuẩn bị và trao cho cố vấn pháp luật đó những tài liệu kín. Vì các mục đích này, nếu muốn thì người đó phải được cung cấp các vật dụng để viết. Cảnh sát hay các cán bộ, nhân viên nhà tù có thể quan sát, chứ không được nghe những trao đổi giữa tù nhân với cố vấn pháp luật của người đó.

Riêng người bị bắt hoặc bị giam giữ mà không có lời buộc tội, Quy tắc quy định không phương hại đến những quy định trong Điều 9 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, người bị bắt và bị giam giữ mà không có lời buộc tội phải được hưởng sự bảo vệ như đã nêu trong Phần I và Phần II của mục C. Những quy định có liên quan trong Phần II của mục A cũng sẽ được áp dụng như vậy khi việc áp dụng chúng có thể có lợi cho nhóm người đặc biệt đang bị giam giữ này, với điều kiện không có một biện pháp nào hàm ý rằng việc giáo dục và cải tạo dù sao cũng là thích hợp với những người không bị kết án vì bất cứ một tội hình sự nào.

Vấn đề nghiêm cấm tra tấn con người nói chung, tù nhân nói riêng là nội dung mà cộng đồng quốc tế đều quan tâm ngay từ trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948. Nội dung này tiếp tục được khẳng định trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Tuyên bố năm 1975 về soạn thảo Công ước chống các hành vi tra tấn cùng các loại trừng phạt dã man và phi nhân tính khác trong đối xử với con người. Riêng Công ước này đã quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ quy định trong luật hình sự của nước mình các hành vi tra tấn và đối xử dã man, phi nhân tính đối với con người là tội phạm hình sự và phải bị áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử lý.

Ngày 14/12/1990, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 45/111 về những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân, trong đó ghi nhận mọi tù nhân phải được đối xử với sự tôn trọng theo đúng nhân phẩm vốn có và giá trị của họ với tư cách là con người. Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác. Tuy nhiên, tín ngưỡng và tập quán văn hóa của nhóm mà tù nhân đó là một thành viên cần được tôn trọng, ở bất cứ nơi nào mà hoàn cảnh địa phương yêu cầu như vậy.

Trách nhiệm của nhà tù trong việc giam giữ tù nhân và bảo vệ xã hội chống lại tội phạm phải được thực hiện phù hợp với các mục tiêu xã hội khác của quốc gia và những trách nhiệm chủ yếu của quốc gia trong việc thúc đẩy hạnh phúc và sự phát triển của mọi thành viên trong xã hội. Mọi tù nhân phải có quyền tham gia những hoạt động văn hóa, giáo dục nhằm phát triển đầy đủ nhân cách. Cần thực hiện và khuyến khích những nỗ lực nhằm xóa bỏ việc dùng biện pháp biệt giam như một hình phạt, hoặc nhằm hạn chế sử dụng biện pháp này. Về dịch vụ y tế, tù nhân phải được tiếp cận các dịch vụ y tế sẵn có trong nước mà không bị phân biệt đối xử trên cơ sở tình trạng pháp lý của họ.

Ngoài ra, tương ứng các quy định này cũng là những quy tắc/chuẩn mực tối thiểu đối với tù nhân là vị thành niên được giải quyết tương ứng và quy định cụ thể trong Nghị quyết số 40/33 ngày 29/11/1985 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua Những quy tắc tối thiểu chuẩn mực của Liên Hợp quốc về quản lý tư pháp đối với vị thành viên (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh). Văn kiện này gồm 30 quy tắc chia làm 5 phần: 1) Nguyên tắc chung; 2) Điều tra và truy tố; 3) Xử lý và các biện pháp giáo dục; 4) Xử lý giáo dục tại cơ sở dành riêng và; 5) Nghiên cứu, lập kế hoạch, chính sách và đánh giá.

VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

Nghiên cứu Luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người trong nghiên cứu này cho phép đặt ra ba vấn đề chính cho Việt Nam như sau:

1. Về hệ thống, chính sách pháp luật bảo vệ quyền con người. Về vấn đề này, trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật quốc gia liên quan đến việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật (đặc biệt là pháp luật hình sự) trên cơ sở cụ thể hóa các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người và thực tiễn thi hành pháp luật ở nước ta trong thời gian qua, cụ thể là:

Một là, tiếp tục tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay, mặc dù Việt Nam chúng ta đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, nhưng trong thời gian tới, cần có sự tham gia tích cực hơn nữa trong nhiều công ước quốc tế mới về quyền con người và các công ước liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là việc bảo vệ các quyền của phụ nữ, trẻ em, những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội.

Hai là, cần tiếp tục nội luật hóa các công ước, điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người vào các quy định của pháp luật Việt Nam. Về nội dung này, nhiều công ước, điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người đã được Nhà nước ta nội luật hóa vào các quy dịnh của Hiến pháp, các đạo luật chuyên ngành. Chẳng hạn, đó là việc ghi nhận thuật ngữ “quyền con người” trong Hiến pháp năm 1992; quyền trẻ em được ghi nhận trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, sửa đổi, bổ sung năm 1994 và 2004; quyền sống được đặc biệt quan tâm hơn trong Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985 và trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, qua việc giảm hình phạt tử hình trong nhiều cấu thành tội phạm, song cần nghiên cứu, khảo sát ý kiến để tiếp tục giảm các cấu thành tội phạm còn quy định hình phạt này nữa; quyền khiếu nại, tố cáo trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2005; v.v... Tuy nhiên, việc tiếp tục nội luật hóa và cụ thể hóa các giá trị nhân văn, dân chủ và tư tưởng bảo vệ quyền con người trong các Công ước, điều ước quốc tế trong các quy định của pháp luật Việt Nam là yêu cầu cấp bách, góp phần nâng cao hiệu quả trong nhận thức và hành động để bảo vệ các quyền con người.

Ba là, hiện nay, Điều 8 Bộ luật hình sự còn nêu thiếu một khách thể cũng rất quan trọng trong Chương XXIV - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (các điều 341-344) là “hòa bình và an ninh của nhân loại[33]. Do đó, cần kịp thời ghi nhận bổ sung khách thể đã nêu trong nội dung Điều luật này cho phù hợp với các văn bản và những quy định của Luật hình sự quốc tế.

2. Về sự gia nhập Tòa án hình sự quốc tế của Việt Nam. Trong thời gian tới, triển vọng gia nhập Tòa án hình sự quốc tế của nước ta là hoàn toàn có thực. Bởi lẽ, đây là sự mở rộng quan hệ hợp tác và đối ngoại của nước ta, đồng thời được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế và thế giới, đặc biệt là nhiều lợi ích chúng ta có được từ việc gia nhập như: được bảo vệ hòa bình và an ninh nhân loại tránh khỏi sự đe dọa của nhiều thách thức như tội phạm quốc tế, xung đột vũ trang, được nâng cao vị thế quốc gia, được hợp tác và tham gia cùng các quốc gia khác trong việc bảo vệ công lý, lẽ phải, hòa bình và an ninh của các quốc gia khác. Tuy vậy, để làm tốt điều này trước khi gia nhập ICC, Việt Nam chúng ta cần tiến hành một số công việc có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ nhiệm vụ chính trị này, đó là:

Một là, cần nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo về Quy chế Rome và ICC trong mối quan hệ với pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, tiếp tục hoàn thiện pháp luật quốc gia cho tương thích với Quy chế Rome và ICC (đặc biệt là pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự);

Hai là, thường xuyên theo dõi diễn biến, thông tin, tài liệu... về Quy chế Rome và ICC, cũng như công tác phổ biến những nội dung này trong xã hội, trong công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ. Tiếp tục cho dịch và in những tài liệu liên quan đến Quy chế Rome và ICC, cũng như tổ chức các buổi Hội thảo, Tọa đàm khoa học phục vụ chủ đề này.

Ba là, nâng cao công tác đào tạo, giáo dục chuyên gia, cán bộ, giảng viên (đặc biệt là trong các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, nghiên cứu - giảng dạy pháp lý) về Quy chế Rome và ICC và những chi phí cần đầu tư cho công tác này.

Như vậy, nếu gia nhập ICC sẽ là một hành động cụ thể thể hiện thái độ kiên quyết của Việt Nam trong việc cam kết phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các tội phạm quốc tế, bởi lẽ, chúng ta đã từng là nạn nhân của các tội phạm quốc tế vô cùng nghiêm trọng (ví dụ: việc sử dụng chất độc màu da cam). Hy vọng, tham gia ICC sẽ góp phần bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân và nhân quyền trước nguy cơ xâm phạm của ngoại xâm, của tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế.

3. Về giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam. Về giáo dục, đào tạo quyền con người là một trong những chủ đề rất được quan tâm của cộng đồng thế giới và tất cả các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc. Bởi lẽ, có giáo dục, đào tạo quyền con người cho thế hệ trẻ tốt, thì mới bảo đảm quyền con người được thực sự tôn trọng, bảo vệ trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, trong Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993 (được thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai, họp tại Viên ngày 25/6/1993) đã ghi nhận một số nội dung về giáo dục về quyền con người (mục D) có giá trị tham khảo rất hữu ích cho việc giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam, cụ thể là:

Một là, Hội nghị thế giới về quyền con người coi giáo dục, đào tạo và thông tin công cộng về quyền con người là thiết yếu để thúc đẩy việc đạt được các mối quan hệ ổn định và hài hòa giữa các cộng đồng, và để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, sự khoan dung và hòa bình, tự do và bình đẳng, giữa quyền và nghĩa vụ.

Hai là, các quốc gia cần nỗ lực xóa nạn mù chữ và cần hướng giáo dục đến mục tiêu phát triển đầy đủ nhân cách, và việc tăng cường sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản. Kêu gọi tất cả các quốc gia và các thể chế đưa các vấn đề quyền con người, luật nhân đạo, dân chủ và Nhà nước pháp quyền thành các môn học trong chương trình giảng dạy ở tất cả các cơ sở giáo dục chính quy và không chính quy. Trên cơ sở này, theo chúng tôi cần thiết đưa vấn đề Luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người thành môn học (chuyên đề) chính thức, trước hết là các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học luật ở nước ta[34].

Ba là, giáo dục về quyền con người cần bao gồm các vấn đề về hòa bình, dân chủ, phát triển và công bằng xã hội, nhằm đạt tới sự hiểu biết và nhận thức chung để củng cố sự cam kết toàn cầu đối với các quyền con người. Đặc biệt, cần nêu cao những giá trị cao quý được thừa nhận chung của quyền con người - tự do, bình đẳng, công lý, nhân văn, bác ái và lòng khoan dung trong công tác giáo dục, đào tạo quyền con người. Ngoài ra, các quốc gia cần soạn thảo các chiến lược và chương trình cụ thể để bảo đảm sự giáo dục và phổ biến thông tin ở mức độ rộng rãi nhất về quyền con người, đặc biệt là lưu ý đến các quyền con người của phụ nữ, trẻ em hay những đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội. Bởi lẽ, làm tốt công tác giáo dục, đào tạo quyền con người có nghĩa đồng thời nâng cao nhận thức “để quần chúng nhân dân hình thành nhận thức đúng đắn về quyền con người, củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước; chống lại những hoạt động lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” của một số nước phương Tây và các thế lực phản động, thù địch chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”[35].

Tóm lại, nghiên cứu tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực và liên thông về quyền con người là đặc biệt quan trọng, trong đó không thể thiếu hướng nghiên cứu của Luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người. Do đó, trước yêu cầu phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với chế độ chính trị Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, yêu cầu của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, đòi hỏi chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu tiếp nhận những thành tựu và từng bước có các kế hoạch triển khai nghiên cứu, giáo dục, đào tạo về quyền con người và việc bảo vệ các quyền con người, đặc biệt là vấn đề nội luật hóa những quy định của Luật hình sự quốc tế vào pháp luật quốc gia./.

 

TS. Trịnh Tiến Việt - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân, các số 8, 9 và 10 (tháng 4-5)/2009



[1] Xem: Antonio Cassese, International Criminal Law, Published in the United States by Oxford University Press Inc., New York, 2003, p.5.

[2] Xem: Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Luật hình sự quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.6.

[3] Http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/. Luật hình sự quốc tế được hình thành khi Quy chế các Tòa án Quân sự Quốc tế Nurrumbe và Tôkyô xét xử bọn tội phạm chiến tranh sau Chiến tranh thế giới II. Tuy nhiên, trong lịch sử thế giới người ta đã từng biết tới khái niệm này ở Vương quốc La Mã cổ đại khi những tên cướp biển được coi là kẻ thù của nhân loại. Các quốc gia cổ đại cũng đã từng ký các điều ước quốc tế về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm chiến tranh. Luật hình sự quốc tế hiện đại đã đưa ra các quy định về cấu thành tội phạm, tổ chức các Tòa án hình sự quốc tế, quy định về tố tụng hình sự quốc tế và vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh chống tội phạm.

[4] Xem: Antonio Cassese, International Criminal Law, Published in the United States by Oxford University Press Inc., New York, 2003, p.15.

[5] Xem: Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.867-868.

[6] Xem: United Nations, Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994, p.4.

[7] Xem cụ thể hơn: Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội. 2010, tr.5-10.

[8] Xem cụ thể hơn: Bộ Ngoại giao Việt Nam, Vấn đề nhân quyền, Tài liệu tuyên truyền, nguồn: Http://www.mofa.gov.vn/vi/ctc_quocte/ptklk/nr040819162124/ns040906134805/view.

[9] Xem: Hoàng Công, Quyền con người - Nhìn từ góc độ triết học, Tạp chí Triết học, số 1/2006, tr.15.

[10] Xem: Wolfgang Benedek, Tìm hiểu về quyền con người (Tài liệu dịch của Mạng lưới an ninh con người dựa trên sáng kiến của Bộ Ngoại giao Áo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008, tr.13.

[11] Xem: Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.

[12] Xem: Các văn bản quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.62.

[13] Xem cụ thể hơn: Cao Đức Thái, David Kinley (chủ biên), Luật Quốc tế về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr.33-35.

[14] An ninh quốc gia là sự ổn định, tồn tại và bền vững của chế độ Hiến pháp, của hệ thống chính trị, cũng như sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Nhà nước, đồng thời là khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự quốc gia và quốc tế.

[15] An ninh quốc tế là sự ổn định và tồn tại, hợp tác và phát triển bền vững của các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc và của cộng đồng quốc tế, cũng như sự bất khả xâm phạm của trật tự pháp luật quốc tế trước các cuộc chiến tranh xâm lược hoặc xung đột vũ trang, đồng thời là khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự quốc gia và quốc tế.

[16] Xem cụ thể hơn: Lê Cảm (chủ biên), Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr.226-227.

[17] Trong số các điều ư­ớc này có ba công ư­ớc quốc tế quan trọng mà Việt Nam tham gia - Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948, Công ư­ớc về không áp dụng thời hiệu đối với các tội phạm chiến tranh và các tội phạm chống nhân loại năm 1968 và Công ­ước về ngăn chặn và trừng trị tội Apácthai năm 1973. Xem: Các văn bản quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.149, 218, 223.

[18] Xem cụ thể hơn: Công ước Giơnevơ 12/8/1949 và khoản 2 Điều 8 Quy chế Rome năm 1998.

[19] Xem cụ thể hơn: Điều 6 Quy chế Rome năm 1998.

[20] Xem cụ thể hơn: Điều 7 Quy chế Rome năm 1998.

[21] Xem cụ thể hơn: Điều 6 Hiến chư­ơng Tòa án Quân sự quốc tế Nurembe năm 1845 và điểm a Điều 5 Hiến chương Tòa án Quân sự quốc tế Tôkyô năm 1946; điểm d khoản 1 Điều 5 Quy chế Rome năm 1998.

[22] Xem: Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.877.

[23] Xem: Võ Khánh Vinh, Giáo trình Tội phạm học (tái bản lần thứ ba, có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.226.

[24] Xem cụ thể hơn: Công ước Luật biển năm 1982; Công ước năm 1958 về biển cả trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm cướp biển; Công ước bổ sung năm 1956 về hủy bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, các thể chế và tập tục khác tương tự chế độ nô lệ năm 1956; Công ước năm 1937 về ngăn ngừa và trừng trị tội khủng bố quốc tế; Công ước Châu Âu năm 1976 về đấu tranh chống khủng bố; Công ước năm 1997 về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế bằng bom; Công ước năm 1999 về ngăn ngừa và trừng trị hành vi tài trợ cho hoạt động khủng bố; Công ước năm 1979 về chống bắt cóc con tin; Công ước Tôkyô năm 1963 về tội phạm và các hành vi khác thực hiện trên các phương tiên bay; v.v...

[25] Còn thẩm quyền tài phán (xét xử) của một số Tòa án hình sự quốc tế khác, chúng tôi sẽ đề cập trong nghiên cứu khác.

[26] Xem: Trần Văn Độ, Một số vấn đề về quyền tài phán của Tòa án hình sự quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Tòa án hình sự quốc tế và sự gia nhập của Việt Nam, Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc tế của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 25-26/10/2006, tr.123.

[27] Chẳng hạn, về thẩm quyền xét xử đối với tội khủng bố quốc tế, Công ước năm 1997 về trừng trị các hành vi khủng bố bằng bom đã quy định thẩm quyền tài phán cho các quốc gia như sau: 1) Quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện; 2) Quốc gia mà phương tiện bay hoặc tàu biển mang quốc tịch khi hành vi phạm tội được thực hiện trên phương tiện bay hoặc tàu biển; 3) Quốc gia mà nghi phạm là công dân, nếu nghi phạm là người không có quốc tịch thì quốc gia có thẩm quyền là quốc gia nơi nghi phạm có địa điểm thường trú trên lãnh thổ quốc gia này; 4) Quốc gia mà nạn nhân của hành vi phạm tội là công dân; 5) Quốc gia mà hành vi phạm tội được thực hiện nhằm chống lại an ninh và trật tự ổn định của quốc gia trong quan hệ quốc tế cũng như trong nước; 6) Quốc gia mà hành vi phạm tội được thực hiện nhằm chống lại đại sứ quán hoặc cơ sở ngoại giao hay lãnh sự cũng như các trang thiết bị khác của quốc gia ở nước ngoài; 7) Quốc gia mà hành vi phạm tội được thực hiện trên phương tiện bay do Chính phủ của quốc gia này khai thác.

[28] Xem: Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Luật hình sự quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.286.

[29] Xem: Võ Khánh Vinh, Giáo trình Tội phạm học (tái bản lần thứ ba, có sửa chữa, bổ sung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.255.

[30] Xem: Lê Anh Hoàng, Thành lập Tòa án hình sự quốc tế - Một thắng lợi của công lý, Báo Công lý (Tòa án nhân dân tối cao), số 16(96)/1998, tr.27.

[31] Xem: Evelyn Balais-Serrano, Thời điểm thích hợp để ủng hộ pháp quyền: Tình hình ở Philippines về Tòa án hình sự Quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo về Tòa án hình sự quốc tế: Gia nhập và thực thi Quy chế Rome do Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 26-27/8/2008.

[32] Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 đã khẳng định: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em” (Điều 1) và “Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi” (Điều 6).

[33] Xem: Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.159.

[34] Ví dụ: tham khảo Chương trình đào tạo cử nhân Luật của Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN: Vào năm thứ 4, sinh viên/học viên theo học các chuyên ngành được học môn Luật hình sự quốc tế (Tư pháp hình sự hoặc Luật Quốc tế); học môn Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự (Tư pháp hình sự) và Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật (Hành chính-Hiến pháp), song vẫn chưa có môn học (chuyên đề) nghiên cứu mang tính liên thông đã nêu (như: Bảo vệ các quyền con người bằng Luật hình sự quốc tế - Luật hình sự quốc tế và quyền con người...).

[35] Xem: Nguyễn Thị Báo, Một số vấn đề về giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 23 (167)/2008. Website: Http://www.tapchicongsan.org.vn, tr.2.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi