Thứ Năm, 21/3/2019
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số vấn đề có liên quan đến sự gia tăng của tội phạm môi trường và giải pháp ngăn chặn

 “Tội phạm môi trường” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhìn chung, “Tội phạm môi trường” là một thuật ngữ chung để mô tả các hoạt động trái phép gây hại cho môi trường và nhằm sinh lợi cho các cá nhân hoặc tổ chức hoặc công ty từ hoạt động khai thác, phá hủy, buôn bán hoặc trộm cắp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các tội phạm nghiêm trọng và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Trên thực tế, khó có thể ghi nhận chính xác mức độ tổn thất và giá trị thiệt hại từ các hoạt động tội phạm môi trường do phạm vi rộng và không rõ ràng. Tuy nhiên, dựa vào các nguồn thông tin tình báo đáng tin cậy do INTERPOL cung cấp, một vài giá trị ước tính vẫn được ghi nhận.

  • Giá trị buôn bán động vật hoang dã trái phép ước tính từ 7 đến 23 tỉ đô la Mỹ mỗi năm.
  • Tội phạm môi trường với giá trị ước tính hiện tại từ 91 đến 258 tỉ đô la Mỹ (2016) hàng năm, tăng 26% so với ước tính năm ngoái năm 2014.
  • Tội phạm môi trường tăng thêm từ 5 đến 7% hàng năm, gấp từ 2 đến 3 lần so với tỷ lệ của nền kinh tế toàn cầu.
  • Thất thoát doanh thu của chính phủ thông qua nguồn thu nhập thuế bị thất thoát do hoạt động khai thác trái phép chiếm ít nhất từ 9 đến 26 tỉ đô la Mỹ hàng năm.
  • Tội phạm lâm nghiệp bao gồm tội phạm kinh tế và khai thác gỗ trái phép với giá trị ước tính chiếm từ 51 đến 152 tỉ đô la Mỹ;
  • Giá trị nuôi cá trái phép ước tính từ 11 đến 24 tỉ đô la Mỹ;
  • Giá trị khai thác trái phép ước tính từ 12 đến 48 tỉ đô la Mỹ;
  • Giá trị buôn bán chất thải trái phép ước tính từ 10 đến12 tỉ đô la Mỹ.

Các giá trị ước tính này cho thấy tội phạm môi trường là tội phạm lớn nhất đứng thứ 4 trên thế giới, chỉ sau tội buôn ma túy (344 tỉ đô la Mỹ), tội giả mạo (288 tỉ đô la Mỹ) và tội buôn người trái phép (157 tỉ đô la Mỹ).

Dưới sự can thiệp ngày càng gia tăng của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, những kẻ phạm tội phối hợp với nhau, lẩn trốn hoặc thậm chí chuyển tiêu điểm từ ma túy, buôn bán người, hàng hóa giả mạo và vũ khí sang bất cứ cơ hội mới nào - hóa chất và chất thải nguy hiểm, sản phẩm từ rừng, tê tê, trai tai tượng khổng lồ, khoáng sản và vàng được khai thác trái phép. Loài tê tê, kiến và côn trùng ăn động vật có vú, có vảy từ châu Á và châu Phi, trở thành một trong những động vật bị buôn lậu nhiều nhất trên thế giới để làm thuốc giả và các món ăn độc nhất chỉ trong một vài năm gần đây, ước tính hơn một triệu cá thể tê tê bị giết trong một thập kỷ. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như vàng, khoáng sản, sản phẩm từ lâm nghiệp hoặc chất thải dễ để buôn lậu và ít gây sự chú ý hơn ma túy. Chất thải điện tử và chất thải nguy hiểm thường được những kẻ buôn lậu phân loại theo mã hải quan là các sản phẩm cũ và nhờ đó bỏ qua các quy định hải quan và các quy ước quốc tế. Những kẻ phạm tội ngay lập tức tráo đổi giữa các loại hàng lậu thuế hoặc chuyển hàng đến các khu vực địa lý thay thế khác phản ứng với các hoạt động thực thi giới hạn về mặt địa lý và chủ đề.

Tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi từ buôn bán trái phép từ ngà voi đến trai tai tượng khổng lồ và tê tê, chúng chuyển hướng sang buôn lậu các chất khí gây suy giảm tầng ôzôn từ khí CFCs sang khí HCFCs, vì vậy, khí HCFCs có xu hướng dần cạn kiệt và trở nên hiếm hơn, chuyển từ gian lận thuế VAT thường xuyên đến gian lận tín dụng các-bon khi thị trường tín dụng các-bon mới nổi, và chuyển sang kiếm lời trái phép từ buôn lậu gỗ nhiệt đới dưới vỏ bọc là bột giấy và gói giấy thời điểm hải quan chủ yếu chú ý tới gỗ tròn và đồ đạc. Mạng lưới tội phạm này hiện nay cũng được thể hiện dưới hình thức tội phạm cổ cồn trắng, bao gồm các tội phạm kinh tế, sử dụng hàng ngàn các công ty vỏ bọc tại các thiên đường thuế, gian lận thuế, tính thuế hai lần, định giá chuyển giao sai, rửa tiền, các tội phạm mạng internet và không gian ảo, lừa đảo trực tuyến/trộm danh tính, gian lận về chứng khoán, các tội phạm tài chính, và khai thác trái phép các tín dụng các-bon), để đề cập đến một số mục tiêu gây cản trở và kìm hãm phát triển ở các ngành ở cấp quốc gia và quốc tế. Do các nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng được thiết lập mạnh hơn, khả năng tránh các biện pháp thực thi càng tăng, đa dạng và chuyển giao biến tướng thành các sản phẩm mới.

Các nguyên nhân sâu xa của các tội phạm môi trường thay đổi đáng kể, chủ yếu là các rủi ro thấp và lợi nhuận cao trong một môi trường kỷ cương buông lỏng do hậu quả của việc quản lý kém, tham nhũng lan rộng, ngân sách tối thiểu phân bổ cho ngành Công an, Tố tụng và Tòa án, hỗ trợ thể chế chưa thỏa đáng, can thiệp chính trị và tinh thần làm việc chưa cao, tiền trợ cấp tối thiểu cho các cộng đồng địa phương và nhu cầu tăng cao ở châu Á nói riêng. Đói nghèo cũng thúc đẩy các hoạt động chiêu mộ những thủ phạm cấp thấp ở các khu vực biên giới. Công cuộc chống tội phạm môi trường ngày càng trở nên cấp bách và đặc biệt quan trọng hơn hết trước các mối đe dọa chống lại hòa bình và an ninh. Cần nỗ lực hơn nữa trong công cuộc ngăn chặn các tội phạm môi trường ngày càng gia tăng vì sự phát triển bền vững. Theo Nghị định S/RES/2195 (2014) do Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc thông qua, trên thế giới, các nhóm khủng bố và nhóm vũ trang phi nhà nước đang ngày càng thu nhiều nguồn tiền hoặc gia tăng liên kết với tội phạm có tổ chức. Điều này đem lại cho các nhóm có một nguồn doanh thu với lợi nhuận cao nhưng rủi ro thấp so với các nguồn thu truyền thống từ các hình thức buôn lậu, buôn người, thuốc phiện hoặc hàng giả. Hậu quả là, các hoạt động phi pháp này đang trực tiếp và gián tiếp phá hủy những nỗ lực gìn giữ hòa bình.

Bất chấp mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với môi trường, hòa bình, an ninh và phát triển, một số những thành công trong công cuộc chống tội phạm môi trường vẫn được ghi nhận. Từ những thành công đó, có thể khẳng định vai trò quan trọng của việc phối hợp là rất cần thiết. Chính sự phối hợp đó có thể góp phần hạn chế hoạt động buôn bán trái phép một cách hiệu quả và thậm chí có thể giúp phục hồi các hệ sinh thái.

- Ở cấp quốc gia, có lẽ thành công lớn nhất đạt được trong công cuộc chống tội phạm môi trường là Kế hoạch mở rộng lần 2 của chính phủ Brazil trong công cuộc Bảo tồn và Chống nạn Phá rừng trong khu vực Amazon (PPCDAM), giảm nạn phá rừng ở khu vực Amazon xuống còn 76% chỉ tính trong khoảng thời gian 5 năm qua. Có lẽ chìa khóa quan trọng nhất đối với thành công của chính phủ Brazil đó là có duy nhất một văn phòng chịu hoàn toàn trách nhiệm điều phối.

- Nghị định thư Montreal cũng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc ngăn chặn buôn bán trái phép các chất làm suy giảm tầng ôzôn như CFCs và HCFCs thông qua các đề án, bao gồm Hệ thống trao đổi thông tin iPIC do UNEP đưa ra vào năm 2006 và Dự án Vá Trời với các quốc gia đang tham gia với tư cách là các nước thành viên và với Văn phòng Liên lạc Tình báo Khu vực của Tổ chức Hải quan Thế giới và Kế hoạch Hành động về tầng ôzôn theo Nghị định thư Montreal đang giữ vai trò điều phối. Thông qua các hiệp định toàn cầu, việc thực thi quy tắc luật môi trường không những có thể hỗ trợ đạt được các mục tiêu môi trường một cách hiệu quả mà còn ngăn chặn hoàn toàn hoạt động buôn bán trái phép các hàng hóa trên toàn thế giới.

- Các công ước Stockholm, Rotterdam và Basel là các công ước chịu trách nhiệm hỗ trợ ngăn chặn hoạt động buôn bán trái phép các hóa chất và rác thải. Những công ước này cung cấp các cơ sở quan trọng trong công cuộc đẩy mạnh hơn nữa những nỗ lực chống hoạt động buôn bán trái phép các hóa chất và rác thải nguy hiểm.

Cần phải phối hợp và nỗ lực chia sẻ thông tin và phân tích để đấu tranh và giảm các tội phạm môi trường trên toàn thế giới, nhằm kiềm chế gia tăng các tội phạm môi trường và hỗ trợ kinh doanh bền vững, phát triển hòa bình và thịnh vượng ở mọi quốc gia. Bảo vệ các hệ sinh thái và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên chống lại mối hiểm họa từ tội phạm sẽ cần phải có sự nỗ lực dài hạn giữa các ngành. Như đã chứng minh, những nỗ lực hợp tác chuyên sâu quả thực có thể đem đến thành công.

Trước các mối đe dọa nghiêm trọng, một số giải pháp nhằm ngăn chặn các tội phạm môi trường được đề xuất, gồm:

- Giảm mối đe dọa với an ninh và hòa bình: Tăng cường thu thập, phân tích và chia sẻ thông tin giữa các ngành, trong sứ mệnh bảo vệ hòa bình, các Ủy ban Trừng phạt và toàn bộ UN về vai trò khai thác tài nguyên thiên nhiên trong các xung đột và an ninh để truyền đạt các phản hồi tổng thể hướng tới bảo vệ hòa bình, an ninh và phát triển bền vững. Điều này bao gồm cả việc đưa các chuyên viên liên lạc của INTERPOL tham gia vào các sứ mệnh bảo vệ hòa bình.

- Pháp trị: Cộng đồng quốc tế phải ghi nhận và xác định các tội phạm môi trường là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và phát triển bền vững, và tăng cường pháp trị về môi trường ở mọi cấp để ngăn chặn những nơi trú ẩn an toàn, bao gồm phá vỡ các thiên đường thuế ở nước ngoài, cải thiện pháp chế ở cấp độ quốc gia và quốc tế, thực thi các hình phạt có tính chất can ngăn, các pháp chế và trừng phạt nặng, xây dựng năng lực và hỗ trợ công nghệ, nhằm nâng cao năng lực thực thi và xét xử trong lĩnh vực tội phạm về môi trường.

- Năng lực lãnh đạo: Các chính phủ phải xây dựng các kế hoạch đa ngành cấp quốc gia và điều phối cấp trung ương, cùng với sự thống nhất trong chỉ huy và thống nhất trong nỗ lực, phối hợp với các đơn vị có liên quan của UN, INTERPOL và các cơ quan, tổ chức hiệp ước quốc tế có liên quan, nếu phù hợp, để đấu tranh chống lại sự tham gia của các tổ chức tội phạm hình sự trong hoạt động tội phạm về môi trường.

- Hỗ trợ tài chính: Kêu gọi cộng đồng phát triển quốc tế để ghi nhận và xác định tội phạm môi trường là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với phát triển bền vững và tăng cường cổ phần ODA dành cho cải cách quản trị và luật pháp, trong đó có đấu tranh và ngăn ngừa tội phạm về môi trường. Cần phải nhắm đến mục tiêu xây dựng năng lực và hỗ trợ công nghệ cho các cơ quan hữu quan, các nỗ lực thực thi pháp luật của quốc gia, khu vực và toàn cầu chống lại các hoạt động phạm tội về môi trường, chẳng hạn như thông tin và phân tích, hợp tác liên ngành, thực thi, truy tố và xét xử, đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước yếu.

- Ưu đãi kinh tế và nhận thức của người tiêu dùng: Tăng cường ưu đãi kinh tế, các thể chế có liên quan và nhận thức. Điều này đòi hỏi phải có các kế hoạch cho kế sinh nhai khác, cũng như ưu đãi kinh tế và nhận thức của người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu được đưa vào đầy đủ và phối hợp với các nỗ lực thực thi. Phải tiến hành xác định các thông lệ tốt nhất về thay đổi hành vi để giảm cầu, bao gồm thông qua Hội nghị thượng đỉnh viễn thông nhằm giải quyết tất cả các vấn đề của hoạt động mua bán này.

Đinh Thị Phương Thanh

 Khoa Ngoại ngữ, Học viện CSND

Nguồn: “Ban biên tập: Nellemann, C. (Tổng biên tập); Henriksen, R., Kreilhuber, A., Stewart, D., Kotsovou, M., Raxter, P., Mrema, E., and Barrat, S. công bố ngày 08/02/2016” (https://www.cms.int/en/document/rise-environmental-crime-unep-interpol-rapid-response-assessment)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Nghiên cứu - trao đổi