Thứ Ba, 19/10/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư của một số nước và tổ chức quốc tế

Tuy nhiên, thời gian gần đây, những hành vi vi phạm trong khu vực tư có bản chất là hành vi tham nhũng diễn ra ngày càng phổ biến, tinh vi và gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế cũng như đến sự bền vững của mỗi doanh nghiệp. Việc mở rộng phạm vi Luật phòng, chống tham nhũng đến cả khu vực tư là rất cần thiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi này. Mặt khác, còn tạo môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh cho các chủ thể của nền kinh tế quốc dân. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư trên thế giới là rất cần thiết nhằm rút ra những bài học có ích cho quá trình xây dựng pháp luật của Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư của một số quốc gia, tổ chức quốc tế và từ phía bản thân doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp trên thế giới.

1. Các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong KVT từ phía nhà nước và các tổ chức quốc tế

Một là, luật hóa hành vi chống hối lộ trong giao dịch kinh doanh

Ở mọi quốc gia và tổ chức quốc tế, hối lộ đều bị coi là bất hợp pháp. Kết quả khảo sát với những tập đoàn quốc tế cho thấy những biện pháp chống tham nhũng có tác dụng mạnh nhất là những quy định pháp lý trong nước xuất xứ của công ty cấm hối lộ các nước khác. Các công ty của Mỹ đã đi tiên phong trong chương trình này bằng việc tuân thủ Luật các Hành vi tham nhũng nước ngoài của Mỹ (gọi tắt là FCPA). Theo luật này, các công ty Mỹ có thể bị khởi tố nếu liên quan tới những hành vi tham nhũng ở bên ngoài nước Mỹ; Luật Chống hội lộ các cơ quan nhà nước của Ai Cập; Luật Chống tham nhũng của Singapore…. Cũng có những quy định để cấp các công ty của nước mình có những hành vi hối lộ các công chức nhà nước.

Luật Chống tham nhũng của Singapore gồm 37 điều, trong đó quy định hành vi bị coi là phạm tội tham nhũng bao gồm hành vi: (i)  Đòi hối lộ hay nhận hối lộ, hoặc đồng ý nhận hối lộ cho mình hay cho người khác; (ii) Đưa hối lộ, hứa hẹn đưa hối lộ cho một người khác về một khoản tiêu phí (tiền tham nhũng) nhằm được ưu ái dành một khoản lợi nhuận cá nhân. Những hành vi như vậy sẽ phải chịu hình phạt tiền đến 100.000 đôla Singapore hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc phải chịu cả hai hình phạt đó. Nhưng nếu một người có các hành vi trên và bị áp dụng xử lý theo các khung hình phạt nêu trên mà liên quan đến hợp đồng hay một đề nghị về hợp đồng với một bên tham gia là Chính phủ hay một cơ quan nào đó là cơ quan đại diện Chính phủ, cơ quan công quyền thì trong trường hợp này hình phạt tù được áp dụng sẽ là đến 7 năm.

Malaysia rất coi trọng việc chống hối lộ, trong đó có liệt kê cụ thể những hành vi tham nhũng, hối lộ mà xét về bản chất là tham nhũng trong KVT. Bộ luật hình sự Malaysia quy định: “quà biếu có thể là tiền hoặc vật có giá trị”. Theo quy định thì một công chức nhận quà biếu có giá trị bất hợp pháp để đánh đổi lấy việc bản thân thực hiện một hành vi dựa trên quyền lực, chức vụ của mình thì sẽ bị phạt tù có thời hạn đến 3 năm hoặc phạt tiền, hoặc áp dụng cả hai.

Tại Mỹ, từ năm 1977 Luật các hành vi tham nhũng nước ngoài đã cấm các công ty Mỹ đưa hoặc nhận các khoản tiền cho các quan chức của chính phủ nước ngoài vì mục đích giành được hoặc giữ được kinh doanh nước ngoài. Nếu vi phạm luật này, các công ty sẽ phải chịu mức phạt lên tới 2 triệu USD, và các tổng giám đốc có thể bị ngồi tù tối đa là 5 năm hoặc bị phạt 10.000 USD hoặc bị cả hai hình phạt.  

Từ ngày 1-7/2011, Anh bắt đầu áp dụng luật chống hối lộ mới. Đạo luật này được ban hành nhằm mục đích cung cấp thêm những điều kiện bổ sung cho các thẩm phán trong cuộc đấu tranh chống hành vi hối lộ không chỉ của các công ty cũng như cá nhân người Anh thực hiện ở nước ngoài mà còn của các công ty nước ngoài hoạt động ở Anh.

Theo luật mới, các cá nhân bị phát hiện đưa hối lộ và đút lót có thể bị phạt tới 10 năm tù giam và nộp khoản tiền phạt do thẩm phán phán quyết. Đối với các công ty, ngân hàng bị phát hiện “lót tay” trong ký kết hợp đồng sẽ bị phạt các khoản tiền không giới hạn. Các chuyên gia cho rằng đạo luật này nghiêm ngặt tới mức ngay cả các công ty mời các đối tác nước ngoài đi nhà hàng, nhà hát hoặc xem thể thao bằng tiền quỹ cũng có thể bị truy tố.

Đạo luật mới này được thông qua sau một loạt vụ tham nhũng lớn trong ngành công nghiệp quốc phòng của Anh, trong đó các công ty Anh đã trả cho khách hàng nước ngoài những khoản hoa hồng lớn để nhận được hợp đồng.

Trong nỗ lực của mình, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đã xây dựng Công ước Chống hối lộ các công chức nước ngoài trong giao dịch kinh doanh quốc tế và được các nước thành viên thông qua năm 1997. Công ước quy định rằng: “Mỗi bên (ký kết) sẽ thực hiện các biện pháp có thể cần thiết để xác lập một quy tắc rằng theo luật pháp nước đó, một người mà cố tình đề xuất, hứa hẹn hoặc cho những khoản tiền quá lớn hay những lợi thế khác, trực tiếp hoặc thông qua các trung gian với một công chức nước ngoài, cho công chức đó hoặc cho một bên thứ ba để công chức này hành động hoặc tránh hành động có liên quan tới việc thực thi những nhiệm vụ chính thức, nhằm có được hay giữ được công việc kinh doanh hay những lợi thế không hợp lệ khác trong việc điều hành hoạt động kinh doanh quốc tế”. Theo đó, Công ước Chống hối lộ đã công khai cấm những cơ chế hối lộ liên quan tới bên thứ ba bởi cơ chế này đã ngầm cho phép các khoản thanh toán tạo thuận lợi, vì những khoản tiền đó không tạo ra một lợi thế cạnh tranh không hợp lệ cho hãng đã trả chúng. Có thể nói, Công ước OECD đã thiết lập một sân chơi bình đẳng cho các công ty cũng như đề cao các giá trị đạo đức trong kinh doanh.

Hai là, hình sự hóa trách nhiệm pháp nhân

Một trong những giải pháp được thực hiện rộng rãi ở các quốc gia đó là quy trách nhiệm cho pháp nhân. Pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh tối cao về hình sự (Grande Ordonnance Criminelle) của Pháp năm 1690. Đây được coi là một biện pháp quản lý sớm trong quản trị công ty. Nguyên tắc này bị từ bỏ trong Cách mạng Pháp nhưng vào cuối thế kỷ XX, nó được thể hiện lại trong luật pháp của Anh, Mỹ, Australia, Canada và những thuộc địa cũ của Anh. Nhật Bản chấp nhận nguyên tắc này vào những năm 1980, Pháp, Đức gần đây đã áp dụng nguyên tắc này nhưng với một phạm vi hạn hẹp hơn. Nguyên tắc này cũng đã được đề cập trong Công ước OECD nhưng không phải là nguyên tắc phổ biến. Đến nay, nguyên tắc trách nhiệm hình sự của pháp nhân được coi là yếu tố then chốt cho việc xúc tiến quá trình tự quản của khu vực tư nhân. Mặc dù luật pháp các nước vẫn chủ yếu tập trung vào khởi tố trách nhiệm của cá nhân, ngay cả trong trường hợp pháp nhân bị khởi tố cũng không có nghĩa là trách nhiệm hình sự của cá nhân sẽ được miễn hay giảm nhẹ. Tuy nhiên, việc thừa nhận nguyên tắc trách nhiệm hình sự của pháp nhân trên thực tế đã đem lại cho những người lãnh đạo doanh nghiệp tuân thủ liêm chính, minh bạch một sự khuyến khích để hợp tác với cơ quan xét xử, và nó hạn chế trường hợp các CEO chịu trách nhiệm bị buộc tội về hành vi lừa đảo trong khuôn khổ giám sát của các CEO đó[1].

2. Các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong nội bộ KVT

Một là, nâng cao nhận thức về kiểm soát và quản trị nội bộ

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu một tổ chức, doanh nghiệp quản trị nội bộ tốt đồng nghĩa với việc họ có các chương trình chống tham nhũng hiệu quả. Các nghiên cứu thực tế đã cho kết quả rằng quản trị công ty tốt đối với các công ty con là rất quan trọng để có được những chương trình chống tham nhũng hữu hiệu trong các công ty lớn. 

Tuy nhiên, kinh nghiệm PCTN trong nội bộ các công ty Mỹ lại cho thấy việc khuyến khích về pháp lý và quản trị nội bộ là một biện pháp mang lại hiệu quả cao. Các Nguyên tắc chỉ đạo Xử phạt Tổ chức Mỹ được ban hành năm 1991 đã quy định một công ty có thể được giảm tới 95% các mức phạt tiền và xử lý vi phạm khi công ty đó chứng minh được rằng họ có một hệ thống tuân thủ hữu hiệu và do đó, bất kỳ một hoạt động bất hợp pháp nào cũng có thể được coi là hoạt động của một cá nhân tinh ranh nào đó trong nội bộ công ty thay vì quy kết đó là hành vi của pháp nhân.

Các Nguyên tắc chỉ đạo Xử phạt Tổ chức Mỹ năm 1991 cũng quy định bảy tiêu chuẩn chính cho một “chương trình tuân thủ có hiệu lực” và quy định rõ việc xem xét mức độ sai phạm của một công ty dựa trên những hệ thống mà công ty đó áp dụng trong việc xử lý các hành vi sai trái có thể xảy ra trên thực tế.

Một yếu tố rất quan trọng trong vấn đề kiểm soát và quản trị nội bộ đó là sự tự nguyện của chính tầng lớp lãnh đạo của công ty, tập đoàn lớn. Phần lớn các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới đều coi lừa đảo và tham nhũng là những rủi ro, và có một nhận thức sâu sắc rằng các hành vi tham nhũng có thể gây ra những hậu quả tàn phá đối với doanh nghiệp của họ. Rủi ro về danh tiếng, thương hiệu của công ty luôn là mối trăn trở thường trực của đội ngũ lãnh đạo. Trong một cuộc điều tra được thực hiện đầu năm 2003 của hãng đầu tư Anh là Friends, Ivovy and Sime đối với 82 công ty trên toàn thế giới mà hãng này có lợi ích cho thấy, 58% các câu trả lời đã thừa nhận rằng “tham nhũng là một nguồn rủi ro đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của họ”[2].

Vụ việc nổi tiếng nhất về việc tham nhũng làm ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty cho đến nay có lẽ là vụ Siemens. Vụ bê bối của Siemens đã được phát hiện từ tháng 11-2006 và đã dẫn tới điều tra ở hơn 10 nước. Bởi theo cáo trạng, Siemens đã trả tiền "lại quả" để giành được hợp đồng về giao thông ở Venezuela, hối lộ để nhận được hợp đồng về mạng lưới điện thoại di động ở Bangladesh, các dự án điện ở Israel và hệ thống kiểm soát giao thông ở Nga. Ngoài ra, tiền lại quả cũng được chi cho các dự án về giao thông tại Trung Quốc, hệ thống mạng lưới điện thoại di động ở VN, Nigeria, các dự án lọc dầu ở Mexico…

Cũng theo cáo trạng cơ quan điều tra cáo buộc Siemens đã tiến hành ít nhất 4.283 phi vụ chi trả khác nhau với tổng số tiền lên tới 1,4 tỉ USD cho quan chức chính phủ các nước để thắng được hợp đồng. Cáo trạng nói việc hối lộ là “cách thức hoạt động có tính hệ thống và rộng khắp” ở Siemens và quan chức “ở mọi cấp độ” đều có liên quan.

"Siemens đã tạo ra hệ thống chi trả rất tinh vi để che giấu các phi vụ trả tiền hối lộ này", các công tố viên viết trong bản cáo buộc. Từ giữa những năm 1990-2007, Siemens đã che giấu các khoản chi hối lộ trong sổ sách và tránh né các biện pháp kiểm toán nội bộ một cách có hệ thống.

Các cựu quan chức Siemens được thuê như là “các cố vấn” để giúp chi trả các khoản tiền hối lộ cho quan chức. Ngoài ra, tập đoàn này còn che giấu danh tính những người nhận tiền và sử dụng các hợp đồng tư vấn giả để tạo bình phong cho các khoản chi trả của bên thứ ba.

Vụ việc bê bối bị phanh phui đã ảnh hưởng sâu sắc và có tính dây truyền đến danh tiếng của Siemens trên toàn cầu. Và như để thể hiện quyết tâm lấy lại danh tiếng đó, hiện nay Siemens đã rất tích cực trong việc tài trợ cho các hoạt động nhằm đấu tranh chống tham nhũng/hối lộ trong kinh doanh mà Việt Nam là một trong nước thụ hưởng chương trình này với Dự án “Sáng kiến xây dựng tính nhất quán và Minh bạch trong quan hẹ kinh doanh tại Việt Nam (ITBI)”thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Trung tâm nghiên cứu chính sách và phát triển (DEPOCEN) triển khai thực hiện.

Cũng từ hàng loạt các vụ tham nhũng lớn khác trong ngành công nghiệp quốc phòng của Anh bị phát hiện mà chính phủ Anh đã thông qua luật chống hối lộ mới. Có thể nói rằng, nắm bắt được tâm lý luôn muốn xây dựng và gìn giữ danh tiếng công ty của các nhà sáng lập và điều hành, các chính phủ đã thực hiện chính sách phù hợp nhằm khuyến khích quản trị nội bộ tốt đối với doanh nghiệp quốc gia mình. Các nước phương Tây cũng như Nhật Bản, Hàn Quốc hệ thống tuân thủ được phát triển rất mạnh mẽ và có hiệu quả phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu.

Hai là, xây dựng và phổ biến tri thức về các hành vi tốt và một nền văn hóa tuân thủ

Tham nhũng cản trở cạnh tranh công bằng, do vậy, Công ước OECD đã thiết lập một sân chơi bình đằng cho chủ thể trong KVT cũng như đề cao các giá trị đạo đức trong kinh doanh. Trên thực tế, các công ty, tập đoàn lớn đều chú trọng xây dựng và thực hiện các cam kết đạo đức cá nhân của các nhà quản lý. Tuyên bố sự lãnh đạo của ban giám đốc và lòng tin của các cá nhân là lý do cho việc thực hiện một nỗ lực chống tham nhũng nghiêm túc hơn là sự quan tâm tới các tác động bên ngoài. Đến nay, theo thống kê, con số lớn nhất trong những người trả lời cuộc điều tra của Hội đồng Hội nghị 2000 đã xếp “sự lãnh đạo của ban giám đốc cao cấp và lòng tin của các cá nhân” là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định của công ty họ về phát triển các tuyên bố hay chương trình chống tham nhũng.

Bởi nhận thức rằng, lừa đảo và tham nhũng là những rủi ro và có thể gây ra những hậu quả nặng nề đối với một công ty nên gìn giữ danh tiếng là điều tối quan trọng. Lời giới thiệu các Nguyên tắc kinh doanh của Shell tuyên bố rằng: “Giữ gìn danh tiếng của Shell là điều tối quan trọng. Chúng ta sẽ bị phán xét theo cách mà chúng ta hành động. Danh tiếng của chúng ta sẽ được duy trì nếu chúng ta hành động với sự thẳng thắn và trung thực trong mọi thương vụ, và chúng ta làm những gì mà chúng ta nghĩ là đúng ở mọi thời đại trong khuôn khổ vai trò chính thống của kinh doanh”. Tiếp đó một trong những Nguyên tắc Kinh doanh được Shell xác định là: “Các giá trị cốt lõi được chia sẻ của chúng ta về sự trung thực, liêm chính và tôn trọng con người giúp củng cố cho mọi công việc mà chúng ta thực hiện và là cơ sở cho các Nguyên tắc Kinh doanh của chúng ta”[3]. Các cuộc điều tra ở những công ty lớn cho thấy rủi ro được nhận thức càng cao thì càng có khả năng là công ty đã phát triển một hệ thống toàn diện.

Bên cạnh nhận thức rủi ro từ tham nhũng và xây dựng và thực hiện những cam kết hành vi tốt trong kinh doanh, đa số các công ty đều có quan điểm thể chế hóa một nền văn hóa tuân thủ trong nội bộ hãng là cách chống tham nhũng hữu hiệu nhất, văn hóa tuân thủ được hậu thuẫn bởi các hệ thống được thiết kế nhằm giảm cơ hội vi phạm trong công ty và tăng khả năng phát hiện những hành vi vi phạm. Để xây dựng một nền văn hóa tuân thủ tốt thì thách thức đối với các công ty, tập đoàn trên thế giới đó là soạn thảo chi tiết những nguyên tắc cốt lõi và thực hiện các quy trình đáng tin cậy. Các công ty cũng thừa nhận rằng các hệ thống và quy trình tuân thủ tự chúng sẽ trở nên hữu hiệu nhất trong những môi trường tin cậy, và trong đó các nhân viên cảm thấy được tự do đặt câu hỏi và nếu cần, báo cáo những hành vi sai trái có thể xảy ra. Một cộng đồng cam kết với một tập hợp các mục đích và giá trị chung là cộng động mà trong đó mức độ tin cậy đạt mức cao nhất. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng các công ty thường thực hiện nỗ lực chống tham nhũng thành công dựa trên bốn yếu tố cơ bản là: (1) Sự tham gia tích cực của ban lãnh đạo công ty; (2) Một bộ quy tắc về các giá trị của công ty và hành vi của nhân viên, có tác dụng định hình cho một tập hợp những văn bản trình bày chi tiết và nhất quán các chính sách và quy trình hoạt động; (3) Một cơ chế tuyên truyền để đảm bảo rằng tất cả các nhân viên đều am hiểu bộ quy tấc và những kỳ vọng về đạo đức của công ty; (4) Các hệ thống cảnh báo áp dụng vào việc giám sát và cam kết các nguyền lực cũng như báo cáo, và cách giải quyết các trường hợp báo động.

 

ThS. Phạm Thị Huệ - Viện Khoa học Thanh tra

Nguồn: Viện Khoa học Thanh tra



[1] Xem Ronald E. Berenbeim (2004) Chống tham nhũng ở Đông Á – Giải pháp từ khu vực kinh tế tư nhân, NXB Chính trị quốc gia.

 

[2] Xem Ronald E. Berenbeim (2004) Chống tham nhũng ở Đông Á – Giải pháp từ khu vực kinh tế tư nhân,NXB Chính trị quốc gia. Tr.51

[3] Xem Các Nguyên tắc Kinh doanh chung của Shell

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi