Thứ Ba, 26/9/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số góp ý cho Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015

Theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 cho thấy có một số vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau, trên cơ sở đó, chúng tôi có một số ý kiến sau đây nhằm hoàn thiện hơn nữa cho quá trình sửa đổi BLHS năm 2015.

Thứ nhất, về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 có đưa ra một phương án:

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản)”.

Như vậy, Dự thảo đã hạn chế phạm vi chịu trách nhiệm hình sự so với quy định trong BLHS năm 2015 (chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trong quy định tại một số điều luật), đồng thời bổ sung thêm hai tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Chúng tôi cho rằng, việc xây dựng các quy định pháp luật hình sự trước hết cần căn cứ vào thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống tội phạm. Thực tiễn cho thấy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không chỉ phạm vào 30 điều luật quy định trong Dự thảo mà còn phạm vào các tội danh khác. Do đó đề nghị chỉnh sửa Khoản 2, Điều 12, BLHS năm 2015 theo hướng lấy lại Khoản 2, Điều 12, BLHS năm 1999 là phù hợp: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Trong trường hợp không theo phương án đó, chúng tôi cho rằng, chính sách hình sự đối với người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là một chính sách quan trọng đã được thông qua trong BLHS năm 2015. Trong quá trình xây dựng dự thảo cho thấy nhiều điều các đại biểu vẫn đồng tình với với án giữ nguyên quy định tại Khoản 2, Điều 12, BLHS năm 2015. Quy định đó nhằm đấu tranh với những vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Do vậy, cần giữ nguyên quy định trong BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của nhóm người này là cần thiết.

Thứ hai, về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội

Có thể thấy việc quy định về chuẩn bị phạm tội trong BLHS năm 2015 và cả trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 còn có nhiều bất cập và chắc chắn sẽ gây khó khăn, vướng mắc cho quá trình áp dụng trong thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống tội phạm. Việc quy định phạm vi trách nhiệm hình sự đối với chuẩn bị phạm tội chỉ trong 25 Điều luật và sử dụng một khoản để quy định hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội ở các điều luật đó là không phù hợp, thậm chí không thống nhất trong kỹ thuật lập pháp (riêng tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác lại quy định khác đồng thời mâu thuẫn với điểm b, Khoản 1, Điều 14).

Qua tổng kết thực tiễn cho thấy quy định trong BLHS năm 1999 chưa có gì bất cập và bao quát được hết những trường hợp trong thực tiễn. Ngoài ra, quy định chuẩn bị phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng là phù hợp. Như vậy, cũng như ý kiến của một số cơ quan, chúng tôi đề nghị quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015 theo hướng lấy lại Khoản 2, Điều 14 BLHS năm 1999 như sau: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.”

Thứ ba, về cách xác định tổng thiệt hại để định tội, định khung hình phạt trong một số tội danh về xâm phạm an toàn giao thông

Thực tiễn cho thấy, nhiều tội phạm trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thiệt hại gây ra không chỉ đơn giản là tính mạng, sức khỏe hay chỉ là tài sản mà còn là thiệt hại hỗn hợp, đồng thời cả về tính mạng, sức khỏe và tải sản cho người khác đặc biệt là trong nhóm tội phạm xâm phạm an toàn giao thông. Hiện nay trong BLHS năm 2015 và dự thảo chưa xây dựng cách tính tổng thiệt hại để định tội, định khung hình phạt đối với những trường hợp này.

Chúng tôi cho rằng, không chỉ Mục các tội xâm phạm an toàn giao thông có hậu quả hỗn hợp mà còn nhiều tội danh khác có cách thiết kế này, nếu quy định hậu quả hỗn hợp để định tội hoặc định khung hình phạt sẽ dẫn đến phải sửa đổi rất nhiều điều luật có quy định tương tự và việc quy định này cũng làm bó hẹp thẩm quyền của Hội đồng xét xử như ý kiến của UBTP.

Bên cạnh đó, mặc dù hiện nay Thông tư liên ngành số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC có quy định về hậu quả hỗn hợp nhưng cũng không bao quát được đầy đủ các tình huống có hậu quả hỗn hợp trong thực tế.

Chúng tôi thấy rằng, không cần thiết quy định về hẩu quả hỗn hợp mà để hội đồng xử đánh giá trong quyết định hình phạt sẽ bảo đảm linh hoạt và phù hợp hơn.

Thứ tư, về quy định xác định hàm lượng chất ma túy để quy ra khối lượng hoặc thể tích (các điều từ Điều 249 đến Điều 252)

Trong dự thảo trình chính phủ tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV có đưa ra vấn đề quy định về xác định hàm lượng chất ma tuy để quy ra khối lượng hoặc thể tích, theo đó Dự thảo có quy định phải xác định nếu thuộc một trong 5 trường hợp: (1) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 các điều từ Điều 249 đến Điều 252, (2) Chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;(3) Chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;(4) Xái thuốc phiện;(5) Chất ma túy trong thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần”.

Quá trình xây dựng đã xác định rõ chỉ cần xác định hàm lượng để quy ra khối lượng, thể tích chất ma túy đối với 04 trường hợp: (1) Chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;(2) Chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;(3) Xái thuốc phiện;(4) Chất ma túy trong thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần với những lý lẽ hết sức thuyết phục, đặc biệt là quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Vấn đề cần trao đổi là có nên quy định vấn đề này vào trong BLHS không? Chúng tôi cho rằng, phần các tội phạm của BLHS quy định những dấu hiệu pháp lí của các tội phạm cụ thể và tình tiết định khung, đi kèm là hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Việc xác định hàm lượng chất ma túy để quy ra khối lượng hoặc thể tích thực chất là quy trình tố tụng, việc quy định ngay trong BLHS là không phù hợp với kỹ thuật lập pháp, do đó theo chúng tôi không bổ sung quy định việc xác định hàm lượng chất ma túy để quy ra khối lượng hoặc thể tích trong BLHS.

Thứ năm, về các điều luật có 02 cấu thành cơ bản

Hiện nay trong BLHS và cả Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 có nhiều điều luật tồn tại 02 cấu thành tội phạm cơ bản. Tuy vậy, kỹ thuật lập pháp phải thống nhất, về nguyên tắc một tội phạm có một cấu thành tội phạm cơ bản quy định những dấu hiệu pháp lí cơ bản nhất cho phép nhận diện đó là tội phạm gì, phân biệt tội phạm đó với tội phạm khác. Ngoài ra, ở những khoản khác sẽ quy định những tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hoặc thấp hơn đó là cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc cấu thành tội phạm giảm nhẹ. Do vậy, để đảm bảo tính thống nhất về kỹ thuật lập pháp cần thiết kế, xây dựng theo hướng mỗi một điều luật chỉ có một cấu thành tội phạm cơ bản.

Ngoài ra, theo chúng tôi cần cân nhắc việc sửa đổi theo hướng gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% đến 60% hoặc cho hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 120% (trong BLHS năm 2015 là 31% đến 60%), nội dung sửa đổi này cũng được thể hiện trong nhiều khoản của dự thảo. Việc sửa đổi đó sẽ không đảm bảo được tính công bằng, ví dụ: gây thương tích cho 1 người với tỉ lệ tổn thương cơ thể 31% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng 02 người đều tỉ lệ tổn thương cơ thể 30% thì không phải chịu trách nhiệm hình sự…

Thứ sáu, về việc tăng mức hình phạt tại một số điều luật liên quan đến người thi hành công vụ, người tiến hành tố tụng (Điều 127, Điều 373, Điều 374 BLHS năm 2015)

Trong BLHS năm 2015 đã nâng mức hình phạt đối với một số tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người do người thi hành công vụ, người tiến hành tố tụng thực hiện. Tuy vậy chúng tôi cho rằng, cần xem xét, cân nhắc nội dung này.

Trước hết, chúng tôi nhất trí với quan điểm quyền con người ngày càng được ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm tuy vậy. Những người thi hành công vụ cũng là nhóm người cần được bảo vệ, bản thân họ thực hiện hành vi không vì động cơ cá nhân mà vì nhiệm vụ, lợi ích chung. Xét đến cùng là họ bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác nhằm duy trì, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy việc nâng mức hình phạt quá cao tại một số điều luật đó là không phù hợp (đối với tội bức cung và nhục hình: mức cao nhất lên đến tù chung thân).

Trên đây là một vài góp ý nhằm hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015./.

Nguyễn Văn Thuyết - Lê Xuân Sang

Khoa Luật - Học viện CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi