Thứ Ba, 16/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Những hành vi vi phạm an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân

Về phạm vi điều chỉnh, Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

1. Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm;

2. Vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm quy định tại Nghị định này bao gồm:

a) Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản phẩm thực phẩm;

b) Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp thực phẩm;

c) Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu và vi phạm quy định khác về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp thực phẩm;

d) Vi phạm quy định về quảng cáo, thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn.

3. Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực liên quan đến an toàn thực phẩm không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các Nghị định khác của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Về thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm, theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm bao gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Quản lý thị trường. Mỗi cơ quan sẽ có thẩm quyền xử lý đối với mỗi mức phạt và hình thức xử phạt khác nhau. Trong đó, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm như sau:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức;

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt tại quy định trên;

Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 2 của Nghị định.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;

Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt tại quy định trên;

Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l, Khoản 3, Điều 2, Nghị định.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định;

Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 3, Điều 2, Nghị định.

Thu Hiền

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi